VKSND huyện, thành phố



mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTuần này2
mod_vvisit_counterTháng này2
mod_vvisit_counterTổng cộng3483877
Hiện có 450 khách Trực tuyến
"CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN" - Chủ tịch Hồ Chí Minh


KINH NGHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

Xem kết quả: / 2
Bình thườngTuyệt vời 

Để nâng cao trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, toàn ngành Kiểm sát tỉnh Quảng Nam đã quán triệt, thống nhất nhận thức và thực hiện ngày càng có chất lượng, hiệu quả trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Bài viết này ghi nhận những kết quả, kinh nghiệm và khó khăn, vướng mắc cũng như đề xuất, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Quán triệt thực hiện Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 về thực hành quyền công tố (THQCT), kiểm sát điều tra (KSĐT) và các văn bản hướng dẫn; Quy chế tạm thời về công tác THQCT, KSĐT, truy tố (ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao); VKSND hai cấp tỉnh Quảng Nam đã kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, giải quyết đối với toàn bộ tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; chủ động phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra (CQĐT) ngay từ khi phát hiện tội phạm và trong suốt quá trình điều tra. Trường hợp người bị bắt, người bị khởi tố không nhận tội, tài liệu, chứng cứ có mâu thuẫn hoặc chưa rõ, thì trước khi xem xét, phê chuẩn, Kiểm sát viên (KSV) trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, hỏi cung bị can để xem xét, đề xuất phê chuẩn có căn cứ, chống lạm dụng việc bắt khẩn cấp hoặc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; phát hiện và yêu cầu CQĐT khắc phục những thiếu sót, vi phạm; Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã chủ động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra; KSV nắm chắc tiến độ điều tra, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, yêu cầu Điều tra viên (ĐTV) cung cấp ngay những tài liệu, chứng cứ mới thu thập được để xử lý vụ án kịp thời; đối với những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, bị can không nhận tội, KSV phải trực tiếp hỏi cung tổng hợp làm rõ việc nhận tội hoặc không nhận tội của bị can...

Toàn cảnh buổi làm việc

1. Kết quả đạt được và một số khó khăn, vướng mắc trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của VKSND tỉnh Quảng Nam

1.1. Những kết quả đạt được

Nhận thức và hành động theo tinh thần cải cách tư pháp, gắn liền với hoạt động thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát (VKS); trong công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự, xác định nhiệm vụ chống oan, sai là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, VKSND hai cấp tỉnh Quảng Nam đã chú trọng kiểm sát ngay từ khâu tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm; kiểm sát 100% số vụ án hình sự ngay từ khi khởi tố; tham gia hỏi cung và trực tiếp hỏi cung 100% số bị can theo quy định; chủ động, tích cực, kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra để yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ, đảm bảo căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, theo đó, tỷ lệ yêu cầu điều tra đạt 90% và yêu cầu khởi tố đạt 100%; kiểm tra kỹ các căn cứ trong các trường hợp bắt khẩn cấp, nếu trường hợp nào không đảm bảo căn cứ, VKS kiên quyết không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các lệnh, quyết định khi chưa đảm bảo căn cứ và yêu cầu trả tự do ngay cho người bị bắt; kịp thời yêu cầu khởi tố bị can đối với các trường hợp có dấu hiệu tội phạm nhưng chưa được khởi tố...; đã THQCT và KSĐT đạt tỷ lệ 97,4%. Trong quá trình giải quyết vụ án KSV đã tích cực, chủ động, bám sát các hoạt động điều tra để làm rõ tội phạm và người phạm tội; kịp thời đề ra yêu cầu điều tra[1], tham gia hỏi cung, nhận dạng, đối chất... Công tác phê chuẩn việc khởi tố bị can, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, tạm giam bảo đảm thực hiện đúng quy định pháp luật, số người bị bắt, tạm giữ chuyển khởi tố hình sự đạt tỷ lệ cao. Trong một số trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát đã trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật để thu thập và kiểm tra chứng cứ; đã kiểm sát chặt chẽ tất cả các trường hợp đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra đều có căn cứ và đúng pháp luật; ra quyết định truy tố đúng thời hạn 100% số vụ án hình sự đã có kết luận điều tra đề nghị truy tố, vượt 10%; bảo đảm truy tố bị can đúng tội đạt 100% qua các năm, vượt 5%.

Qua kiểm sát, năm 2018 và 06 tháng đầu năm 2019, VKSND hai cấp tỉnh Quảng Nam đã phát hiện một số vi phạm của CQĐT, đã ra quyết định hủy bỏ quyết định tố tụng không đảm bảo căn cứ của CQĐT và cơ quan hữu quan; không phê chuẩn 10 người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; ban hành 14 kiến nghị và 03 công văn yêu cầu khắc phục vi phạm; trực tiếp khởi tố 01 vụ án, yêu cầu CQĐT khởi tố 07 vụ/10 bị can.

1.2. Một số khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh những kết quả đạt được thì trong quá trình triển khai thực hiện, VKSND tỉnh Quảng Nam cũng gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

- Về thực hiện yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát: Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa CQĐT và VKS trong thực hiện một số quy định của BLTTHS (Thông tư liên tịch số 04/2018) có quy định: “...Trường hợp CQĐT không thực hiện yêu cầu điều tra của VKS hoặc đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được yêu cầu điều tra của VKS thì CQĐT phải nêu rõ lý do trong bản kết luận điều tra”. Việc quy định như vậy, trong một số trường hợp nếu ĐTV không thực hiện yêu cầu điều tra thì chỉ nêu trong bản kết luận điều tra, mà không trả lời VKS về việc có thực hiện hay không thực hiện yêu cầu điều tra bằng văn bản riêng trước khi kết thúc điều tra để KSV kịp thời trao đổi những vấn đề còn mâu thuẫn, vấn đề chưa được giải quyết trong vụ án, vì vậy, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án, dẫn đến việc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 8; khoản 5, 7 Điều 9 Thông tư liên tịch số 04/2018, trong một số trường hợp khi có căn cứ thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự mà VKS đã yêu cầu nhưng trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu mà CQĐT không thực hiện thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can…; tuy nhiên, Thông tư liên tịch này chưa quy định nếu CQĐT không thực hiện thì phải có văn bản nêu rõ lý do và gửi cho VKS để làm căn cứ ra các quyết định thay đổi hay bổ sung.

Một số yêu cầu điều tra được đề ra, nhưng ĐTV không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Một số vụ án, CQĐT chưa thực hiện đúng và đầy đủ quy định về việc chuyển tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hoạt động điều tra cho VKS để kiểm sát theo quy định tại khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, liên ngành tư pháp Trung ương chưa có cơ chế xử lý trường hợp này.

- Về quy định đóng dấu bút lục: Điểm b, khoản 1 Điều 35 Thông tư liên tịch số 04/2018 quy định: Kiểm sát viên đóng dấu bút lục của VKS (không phải đánh số bút lục) vào góc dưới bên phải của từng trang biên bản, tài liệu. Hiện nay, mẫu dấu bút lục của ngành Kiểm sát đang triển khai sử dụng có số, ngày, tháng, năm, trong khi Thông tư liên tịch quy định khi đóng dấu kiểm sát tài liệu thì không ghi nội dung gì, như vậy có mâu thuẫn với nhau không?. Hiện nay, các VKS đang sử dụng 02 dấu bút lục, một loại là dấu bút lục chỉ có ô đánh số bút lục và một loại dấu bút lục có ngày, tháng, năm và số. Như vậy, việc này cần quy định cho thống nhất.

- Về thủ tục đối chất trong vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi: Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi mới chỉ hướng dẫn lấy lời khai, hỏi cung người dưới 18 tuổi, mà chưa có hướng dẫn về thủ tục đối chất, trong khi khoản 6 Điều 421 BLTTHS năm 2015 quy định: “Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ tiến hành đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo để làm sáng tỏ tình tiết của vụ án trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án”. Ví dụ, trong vụ án có mâu thuẫn, nếu theo lời khai của bị can thì chỉ có thể truy tố về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo Điều 146 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, nhưng theo lời khai của bị hại thì phải truy tố về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo Điều 142 BLHS năm 2015, nhưng không có chứng cứ khác để chứng minh; hoặc bị can khai nhận ít số lần phạm tội hơn so với lời khai của bị hại, như vậy thì có cần thiết phải đối chất không?, nếu không đối chất thì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không?.

- Về việc Kiểm sát viên trực tiếp thực hiện một số hoạt động điều tra: Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Thông tư liên tịch số 04/2018 thì trong giai đoạn điều tra, khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 165 BLTTHS năm 2015 thì KSV trực tiếp tiến hành hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị tạm giữ, người bị bắt, bị hại, đương sự. Kiểm sát viên thông báo trước cho ĐTV trước khi tiến hành. Thực tế cho thấy, nếu mọi trường hợp đều phải thông báo cho ĐTV biết trước thì sẽ phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả của việc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra của VKS, bởi lẽ, VKS chỉ trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

- Khó khăn trong việc giám định một số trường hợp: Một vướng mắc lớn trong thực tiễn cần có hướng dẫn của liên ngành tư pháp Trung ương là giám định xác định người bị tâm thần. Khi chưa có kết quả giám định tâm thần thì VKS chưa thể phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, nhưng thực tế thì phải có phê chuẩn của VKS, phải là bị can thì mới có thể đưa họ đi giám định được. Đối với vụ án cần có xác minh lý lịch tư pháp với bị can là người có quốc tịch nước ngoài thì khó khăn khi đề ra yêu cầu điều tra cho CQĐT trong việc cung cấp lý lịch tư pháp, vì hiện nay việc tương trợ tư pháp về hình sự còn chậm, nhất là đối với những nước chưa ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam, làm ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ giải quyết các vụ án, vụ việc hình sự, vì vậy, cần sớm có hướng dẫn để tháo gỡ vấn đề này.

- Về việc lập hồ sơ kiểm sát: Chỉ thị số 06 yêu cầu nhiệm vụ của KSV được phân công thụ lý vụ án phải lập hồ sơ kiểm sát, trích cứu tài liệu, mở sổ nhật ký kịp thời, đầy đủ các thông tin, diễn biến quá trình điều tra, giải quyết vụ án. Tuy nhiên, hiện nay chưa có biểu mẫu nhật ký kiểm sát nên việc thực hiện chưa được kịp thời, khoa học và thống nhất.

- Khó khăn trong giải quyết một số loại án:

+ Đối với các vụ án hình sự do VKSND cấp tỉnh thụ lý kiểm sát, đa số là các vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến yếu tố nước ngoài và hành vi phạm tội được thực hiện tại nhiều địa phương khác nhau, trong khi thời hạn điều tra có giới hạn nên khó khăn trong việc nghiên cứu hồ sơ, đánh giá, xem xét toàn diện chứng cứ trước khi vụ án được kết thúc điều tra, dẫn đến một số trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

+ Nhiều vụ án về cố ý gây thương tích, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ khó xác định hậu quả do bị hại không hợp tác. Đối với những tội này, kể cả trong trường hợp có yêu cầu khởi tố thì vẫn phải chờ kết quả giám định thương tích của bị hại. Thực tế giải quyết loại án này cho thấy, nhiều trường hợp trong vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông, bị hại không hợp tác, nên không giám định được thương tích; khi xảy ra mâu thuẫn dẫn đến gây thương tích giữa các băng nhóm “xã hội đen”, sau đó, họ tự dàn xếp nên cũng không đưa đi giám định được; trong khí đó, pháp luật quy định không xác định được hậu quả thì không khởi tố vụ án được. Hiện BLTTHS năm 2015 có quy định về áp giải nhưng trên thực tiễn chưa thực hiện được đối với những trường hợp này.

+ Đối với những vụ án đánh bạc qua mạng với trị giá lớn, trong khi KSV do chưa được tập huấn, chưa có nhiều kinh nghiệm trong thu thập chứng cứ điện tử. Vụ án xâm hại tình dục trẻ em cũng gặp nhiều khó khăn do đối tượng là trẻ em, không thu thập được chứng cứ trực tiếp, bị can chối tội; tội phạm về “tín dụng đen” thì khó chứng minh vai trò của người cầm đầu do người vay tiền thường giấu giếm thông tin, sợ mất uy tín hoặc bị người cho vay đe dọa; giấy tờ cho vay lách luật, núp dưới giao dịch dân sự khác; đối tượng cho vay lãi nặng thường gây sức ép với người vay tiền để rút đơn, thay đổi lời khai... gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án.


Đ/c Nguyễn Văn Quang - Viện trưởng VKSND tỉnh Quảng Nam phát biểu tại buổi làm việc

2. Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam

Trước những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự, Lãnh đạo VKSND tỉnh Quảng Nam đã tập trung chỉ đạo, đề ra nhiều biện pháp để VKSND hai cấp thực hiện tốt khâu công tác này nhằm bảo đảm không xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội; qua đó, rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp với Kiểm sát viên trực tiếp thực hiện nhiệm vụ; chú trọng thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ.

Triển khai thi hành các luật, nghị quyết của Quốc hội về tư pháp, VKSND tỉnh Quảng Nam đã tổ chức 11 cuộc tập huấn, hội nghị chuyên đề về các nội dung trong BLTTHS và các văn bản có liên quan để quán triệt thống nhất nhận thức các nội dung về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của VKS trong tố tụng hình sự nói chung và trong THQCT và KSĐT nói riêng; sau mỗi hội nghị, tập huấn, Văn phòng VKSND tỉnh đã tổng hợp, tham mưu cho Lãnh đạo Viện ký ban hành các thông báo, kết luận gửi toàn ngành Kiểm sát tỉnh Quảng Nam để thống nhất nhận thức, đồng thời, giải đáp những vướng mắc được nêu tại Hội nghị... Đối với công tác giải quyết án, Lãnh đạo đơn vị quản lý chặt chẽ ngay từ khâu công tác ban đầu để nắm được mức độ phức tạp của vụ việc, phân công KSV phù hợp với năng lực, sở trường; theo dõi, đôn đốc tiến độ; phân công người chuyên trách theo dõi và tổng hợp vi phạm của CQĐT; cương quyết trong phê chuẩn các lệnh, quyết định. Thanh tra VKSND tỉnh chủ động rút hồ sơ để nghiên cứu, kiểm tra trước khi tiến hành thanh tra nhằm rút ngắn thời gian, đảm bảo các cuộc thanh tra được thực hiện khách quan, nghiêm túc, khoa học, có chất lượng.

Hai là, chú trọng nâng cao năng lực, cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên thông qua đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thường xuyên tổ chức các cuộc thi như: Hội thi “Kiểm sát viên giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật”; cuộc thi “Kỹ năng viết và trình bày luận tội, đối đáp trong ngành VKSND tỉnh Quảng Nam năm 2019”, “Chân dung cán bộ Kiểm sát và Bản lĩnh Kiểm sát viên” trong công chức và người lao động và cán bộ qua các thời kỳ...; thông tin, tuyên truyền pháp luật trên Trang tin điện tử của đơn vị và chuyên mục “Kiểm sát nhân dân” trên Đài Phát thanh - truyền hình Quảng Nam..., qua đó, tạo sự chuyển biến về ý thức trách nhiệm của Lãnh đạo, KSV, góp phần nâng cao vị thế, vai trò của KSV trong quá trình THQCT, kiểm sát việc giải quyết các vụ án hình sự. Đồng thời, thường xuyên tổng hợp những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giải quyết vụ án để gửi thông báo đến các đơn vị VKSND hai cấp rút kinh nghiệm[2]. Công tác hướng dẫn nghiệp vụ, trả lời thỉnh thị, tham mưu đề xuất về THQCT và KSĐT cũng được Phòng 2 VKSND tỉnh quan tâm, chú trọng; nội dung thông báo chỉ ra được những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động nghiệp vụ để nhận diện rõ hơn các dạng vi phạm, rút kinh nghiệm chung.

Ba là, đề ra yêu cầu điều tra.

Tùy theo tính chất từng vụ án mà KSV đề ra một hay nhiều bản yêu cầu điều tra. Thông thường các vụ án do VKSND cấp huyện thụ lý, giải quyết mà thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, không có đồng phạm, diễn biến hành vi phạm tội rõ ràng, công tác điều tra thu thập chứng cứ thuận lợi thì có thể yêu cầu điều tra bằng lời nói hoặc ban hành một bản yêu cầu điều tra (kinh nghiệm của VKSND thành phố Hội An). Nâng cao trách nhiệm của KSV, làm tốt khâu công tác tiếp xúc với bị can ngay từ đầu khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định để kịp thời nắm rõ những vấn đề cần giải quyết của vụ án, nếu chậm tiếp cận thì sau này nếu có sai sót sẽ khó khắc phục (kinh nghiệm của VKSND thị xã Điện Bàn). Đối với các vụ án về “tín dụng đen”, xâm hại tình dục trẻ em thường phức tạp về chứng cứ, tội danh, có nhiều bị can tham gia, hành vi phạm tội diễn ra trong thời gian dài, không có nhân chứng hoặc ít nhân chứng thì nhất thiết phải ban hành nhiều bản yêu cầu điều tra theo từng giai đoạn (kinh nghiệm của VKSND thị xã Điện Bàn). Để bản yêu cầu điều tra có chất lượng thì nội dung yêu cầu điều tra phải thực chất, có thể thực hiện được; đối với những việc đơn giản hoặc theo trình tự thủ tục tố tụng đã quy định cụ thể thì không cần phải đề ra yêu cầu điều tra vì CQĐT sẽ đương nhiên phải thực hiện. Trước khi gửi yêu cầu điều tra cho CQĐT thì KSV phải trình Lãnh đạo Viện xem xét.

Bốn là, về trực tiếp thực hiện một số hoạt động điều tra.

Chủ động tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ phục vụ cho quá trình giải quyết vụ việc theo quy định tại khoản 2 Điều 183, khoản 3 Điều 236 BLTTHS năm 2015. Đối với trường hợp, trong khi tạm giữ, đối tượng khai báo gian dối, KSV chủ động xây dựng kế hoạch đề xuất Lãnh đạo Viện phối hợp với ĐTV hoặc trực tiếp gặp hỏi, ghi lời khai của người bị tạm giữ trước khi tiến hành phê chuẩn. Đối với những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, bị can không nhận tội, KSV trực tiếp hỏi cung tổng hợp làm rõ việc nhận tội và không nhận tội để tiếp tục yêu cầu CQĐT thu thập đầy đủ chứng cứ buộc tội và gỡ tội, tránh để kết thúc vụ án mới đề xuất trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Năm là, hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Kinh nghiệm của VKSND tỉnh Quảng Nam là yêu cầu lãnh đạo cấp phòng tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án giết người ngay từ đầu cùng KSV để nắm được diễn biến, phối hợp thực hiện; thường xuyên bám sát quá trình điều tra, nắm chắc tiến độ điều tra, chủ động đề ra yêu cầu điều tra; phối hợp chặt chẽ giữa KSV với ĐTV và giữa Lãnh đạo hai ngành, thường xuyên trao đổi thông tin, nắm tình hình vụ việc, thống nhất nhận thức. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu phát sinh vướng mắc, khó khăn thì kịp thời báo cáo Lãnh đạo Viện tổ chức họp liên ngành bàn hướng giải quyết; tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cấp ủy, chính quyền địa phương. Đối với những vướng mắc, khó khăn trong giải quyết một số vụ án cụ thể, tuân thủ nghiêm chỉnh cơ chế thỉnh thị. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, đơn vị nhiều năm liền không có án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thì kinh nghiệm là ngay từ đầu năm công tác đã quán triệt tư tưởng cho cán bộ, KSV thấy rõ trách nhiệm của mình và đưa tỉ lệ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung vào chỉ tiêu công tác năm; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc để xảy ra án trả hồ sơ điều tra bổ sung mà không dồn hết trách nhiệm cho KSV; Kiểm sát viên phải kiểm sát ngay từ khâu giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, nếu phát hiện vấn đề thì phải báo cáo ngay cho Lãnh đạo Viện để có hướng giải quyết.

3. Đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn KSV trong mở sổ Nhật ký kiểm sát điều tra để kịp thời cập nhật các thông tin, diễn biến quá trình điều tra, giải quyết vụ án theo một biểu mẫu thống nhất để nâng cao chất lượng công tác THQCT và KSĐT; hướng dẫn về việc đóng dấu bút lục hồ sơ vụ án hình sự cho thống nhất.

Thứ hai, để giải quyết tình trạng ĐTV vi phạm nguyên tắc phối hợp theo quy định tại khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015, chậm chuyển giao biên bản, tài liệu cho VKS để Kiểm sát viên THQCT và kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, đóng dấu bút lục, liên ngành tư pháp trung ương cần bổ sung quy định về cơ chế xử lý đối với trường hợp này.

Thứ ba, cần có hướng dẫn về thủ tục đối chất trong vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi; sửa khoản 1 Điều 12 Thông tư liên tịch số 04 như sau: “Trong giai đoạn điều tra, khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 165 BLTTHS thì Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị tạm giữ, người bị bắt, bị hại, đương sự, người làm chứng, người chứng kiến, đối chất, thực nghiệm điều tra và các hoạt động điều tra khác theo quy định của BLTTHS. Kiểm sát viên thông báo trước cho Điều tra viên trước khi tiến hành, trừ trường hợp do phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng Cơ quan điều tra không khắc phục được. Điều tra viên có trách nhiệm phối hợp với Kiểm sát viên để thực hiện các hoạt động điều tra khi được yêu cầu…”.

Thứ tư, cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn, theo hình thức tập trung, chuyên sâu theo hoạt động nghiệp vụ cụ thể cho cán bộ, KSV (như chuyên đề về nâng cao kỹ năng THQCT, kiểm sát các hoạt động khám nghiệm; về nâng cao kỹ năng THQCT, kiểm sát hoạt động thu thập chứng cứ; kỹ năng thu thập chứng cứ điện tử…)./.

                                                           HỒNG HẢI 

 

TIN MỚI NHẤT