VKSND huyện, thành phố



mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTuần này2
mod_vvisit_counterTháng này2
mod_vvisit_counterTổng cộng1162767
Hiện có 171 khách Trực tuyến
"CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN" - Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ kết quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự năm 2019 và một số dạng án bị hủy, sửa có lỗi chủ quan của các Cơ quan tiến hành tố tụng

Xem kết quả: / 1
Bình thườngTuyệt vời 

Năm 2019, Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Quảng Nam đã THQCT và KSXX theo thủ tục sơ thẩm 826 vụ/1400 bị cáo. Trong tổng số 826 vụ/1400 bị cáo Viện kiểm sát hai cấp đã truy tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử không có trường hợp nào Tòa án tuyên không phạm tội; không có trường hợp án bị hủy có trách nhiệm của Viện kiểm sát. Việc thực hiện tốt 02 chỉ tiêu cơ bản này, nhất là chỉ tiêu không để xảy ra án bị hủy có trách nhiệm của Viện kiểm sát là thành quả tích cực trong công tác giải quyết án hình sự nói chung, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử nói riêng. Công tác kháng nghị được Viện kiểm sát hai cấp quan tâm, chú trọng; so với năm 2018, công tác kháng nghị năm 2019 đã có sự chuyển biến rõ rệt, tăng cao về số lượng, Viện kiểm sát hai cấp đã kịp thời phát hiện vi phạm và kháng nghị phúc thẩm 31 vụ/95 bị cáo (năm 2018 kháng nghị 28 vụ/57 bị cáo). Tỷ lệ chấp nhận kháng nghị tiếp tục được duy trì ở mức cao (87,8%) tăng 2,5%, vượt 5,3% so với chỉ tiêu của Quốc hội và của Ngành.

Trong tổng số 282 vụ/391 bị cáo có kháng cáo, kháng nghị giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm có 17 vụ/33 bị cáo bị hủy, sửa (trong đó hủy án 10 vụ/ 21 bị cáo, sửa 07 vụ/ 12 bị cáo). Các vụ án này không có trách nhiệm của Viện kiểm sát theo Quy định số 379 của Ngành do Viện kiểm sát cấp trên kịp thời phát hiện kháng nghị hoặc chủ động đề nghị nhưng có lỗi chủ quan của các Cơ quan tiến hành tố tụng.

Từ những kết quả nêu trên, để tiếp tục phát huy những ưu điểm và hạn chế tồn tại. Phòng 7 mạnh dạn rút ra 04 nguyên nhân cơ bản có tính chất quyết định  cũng là giải pháp và bài học kinh nghiệm sau đây:

- Một là: Các Vụ nghiệp vụ - VKSND tối cao, Viện kiểm sát cấp cao 2 đã có sự quan tâm, hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời trong công tác giải quyết án hình sự. Ngay từ đầu năm đã kịp thời ban hành hướng dẫn nghiệp vụ của từng khâu công tác, Vụ 14 đã kịp thời ban hành nhiều văn bản hướng dẫn các điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Hình sự năm 2015; kịp thời giải đáp những vướng mắc giúp cho nhận thức của Viện kiểm sát cấp dưới được thống nhất, tạo niềm tin trong thực hiện và áp dụng pháp luật. Cụ thể là Công văn số 5024/VKSTC- V14 ngày 19/11/2019 của Vụ 14 Hướng dẫn giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của BLTTHS và nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự trong ngành Kiểm sát nhân dân. Tại công văn này đã hướng dẫn rất chi tiết, cụ thể rất nhiều quy định, tình huống cũng như các thao tác nghiệp vụ trong quá trình thực hiện của Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ.

- Hai là: Lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Quảng Nam nhất là lãnh đạo Viện kiểm sát tỉnh đã có sự quan tâm chỉ đạo sâu sát đối với từng đơn vị, Kiểm sát viên được giao thực hiện công tác giải quyết án hình sự. Việc chỉ đạo và yêu cầu các đơn vị xây dựng quy chế trên cơ sở quy chế của Viện kiểm sát tỉnh và quy chế của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gắn với việc thường xuyên kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện quy chế đã kịp thời chấn chỉnh những thiếu sót, vi phạm của mỗi đơn vị, cá nhân và đưa công tác này đi vào quy củ. Từ đó, nâng cao ý thức trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ được giao, hạn chế đến mức thấp nhất những thiếu sót, vi phạm trong quá trình thực hiện khâu công tác. Việc thực hiện đúng và đầy đủ các quy định theo Quy chế vừa giúp Kiểm sát viên phát huy được quyền năng pháp lý và qua đó cũng gắn trách nhiệm của Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đơn cử như việc báo cáo và duyệt đường lối truy tố, xét xử quy định tại Quy chế 414 của VKSND tỉnh Quảng Nam, quy chế đã quy định cụ thể thời hạn, quan điểm của Kiểm sát viên và cũng quy định cụ thể thời hạn và quan điểm của lãnh đạo từ cấp Phòng trở lên. Việc thực hiện đúng quy chế giúp hạn chế sai sót và cũng tránh được việc đùn đẩy trách nhiệm từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của cả Kiểm sát viên và lãnh đạo.

- Ba là: Công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát hai cấp, giữa các phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát tỉnh được tăng cường nhất là trong công tác thỉnh thị và trả lời thỉnh thị. Việc phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa Viện kiểm sát cấp huyện với Viện kiểm sát cấp tỉnh, giữa các phòng nghiệp vụ của Viện kiểm sát tỉnh đã giúp cho việc phân tích, đánh giá vụ án trong quá trình giải quyết được toàn diện, tạo sự thống nhất cao về đường lối giải quyết đối với từng vụ án để hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót, vi phạm cả về Luật tố tụng và Luật nội dung trong quá trình thực hiện, áp dụng.

- Bốn là: Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, có rất nhiều điểm mới chưa được Liên ngành cấp trên hướng dẫn. Lãnh đạo Viện kiểm sát tỉnh đã có sự chỉ đạo, tổ chức cho toàn Ngành kiểm sát Quảng Nam mở nhiều hội nghị tập huấn để cùng nhau trao đổi, học tập làm sáng tỏ những điểm mới trong các quy định của 02 Bộ luật này. Đồng thời đã kịp thời có văn bản báo cáo để được Vụ 14 VKSND tối cao hướng dẫn thực hiện. Những hoạt động trên đã góp phần nâng cao nhận thức của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chuyên viên được giao nhiệm vụ giải quyết án hình sự, từ đó kịp thời nắm bắt, vận dụng và áp dụng đúng những điểm mới của 02 Bộ luật trên. Nhờ vậy đã hạn chế sai sót, vi phạm của Viện kiểm sát hai cấp trong quá trình thực hiện và kịp thời phát hiện các vi phạm, thiếu sót của các Cơ quan tiến hành tố tụng nhất là của Tòa án khi xét xử để thực hiện kháng nghị, kiến nghị.

Qua các Hội nghị tập huấn về những điểm mới của BLHS 2015, lãnh đạo Viện ban hành nhiều kết luận giúp toàn Ngành thống nhất được nhận thức và áp dụng pháp luật. Điển hình như việc “Áp dụng các quy định của BLHS theo hướng có lợi cho người phạm tội”, sau khi có Công văn số 22/CV- P7 ngày 25/01/2019 của VKSND tỉnh thống nhất về việc áp dụng đã hạn chế rất nhiều sai sót trong truy tố, xét xử.

* Một số dạng án bị hủy, sửa trong năm 2019 có lỗi chủ quan của các Cơ quan tiến hành tố tụng:

Qua theo dõi án bị hủy, sửa trong năm 2019 có lỗi chủ quan của các Cơ quan tiến hành tố tụng, nhận thấy các vụ án bị hủy, sửa tập trung nhiều ở nhóm tội có hành vi gây thương tích và bắt giữ người trái pháp luật để chiếm đoạt tài sản.

- Đối với tội có hành vi cố ý gây thương tích: Có 02 dạng:

+ Dạng 1: Bị cáo dùng hung khí như dao, đá ... tấn công vào các vùng trọng yếu trên cơ thể của người bị hại. Mặc dù hậu quả chết người chưa xảy ra nhưng buộc bị cáo phải nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra. Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo không có mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại và hậu quả chết người chưa xảy ra để truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” mà chưa xem xét, đánh giá toàn diện diễn biến, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo dẫn đến bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy án để điều tra lại về tội “Giết người”. Điển hình: Vụ Lê Duy Thanh (Thăng Bình) có hành vi dùng chai thủy tinh và cục vữa bê tông liên tiếp đập vào đầu bị hại gây Chấn thương sọ não với tỷ lệ thương tích là 95% , hậu quả bị hại sống nhưng không tự đi lại và không tự ăn uống được; vụ Nguyễn Văn Bảo (Núi Thành) có hành vi dùng dao bầu đâm nhiều nhát vào vùng bụng, hông, ngực của bị hại gây vết thương thấu bụng gây thủng ruột, thủng cơ hoành trái, thủng màng phổi trái, phòi tạng, tràn máu màng phổi phải ... tỉ lệ thương tích là 55%. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”; cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy án để điều tra lại về tội “Giết người”.

+ Dạng 2: Vụ án có nhiều đối tượng tham gia với vai trò giúp sức thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, giúp sức (có thể là là vật chất, tinh thần) như: Dùng xe chở bị cáo đuổi theo để bị cáo tấn công bị hại, cùng bị cáo đem theo hung khí đến nơi ở của bị hại để bị cáo tấn công bị hại … hoặc nhiều bị cáo cùng tấn công bị hại nhưng tách tỉ lệ thương tích để làm căn cứ truy tố, xét xử dẫn đến không đủ tỉ lệ thương tích để truy cứu trách nhiệm hình sự. Điển hình: Vụ Cao Thanh Danh (Hội An) do có mâu thuẫn với bị hại nên đã rủ nhóm bạn gồm 05 người đi đánh bị hại và tất cả đồng ý cùng mang theo hung khí là các thanh sắt, gỗ... đến nơi ở của bị hại. Khi đến nơi bị cáo Danh xông vào dùng cây gỗ đánh nhiều cái vào người bị hại gây thương tích 27%, các đối tượng khác đứng ngoài đe dọa không cho người khác vào can ngăn. Vụ Vũ Đình Huy (Phước Sơn) cùng 03 đối tượng sau khi uống rượu do bực tức khi thấy bị hại chạy xe máy ngang qua nên cùng nhau điều khiển 02 xe máy đuổi theo và dùng hung khí tấn công bị hại. Cấp sơ thẩm chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trực tiếp gây thương tích mà không xem xét trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng giúp sức là bỏ lọt người phạm tội nên bị hủy án để điều tra lại.

 - Đối với tội có hành vi bắt giữ người trái pháp luật để chiếm đoạt tài sản: Xảy ra ở các dạng một hay nhiều đối tượng bắt giữ người bị hại đến những nơi khác nhau để thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản hoặc cướp tài sản hoặc yêu cầu người thân đem tiền đến chuộc. Cấp sơ thẩm chưa điều tra đầy đủ các hành vi xâm phạm các khách thể khác dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội nên bị hủy án điều tra lại. Điển hình: Vụ Dương Sáu cùng đồng phạm (Thăng Bình) có hành vi tổ chức đánh bạc do nghi ngờ bị hại chơi gian lận đã có hành vi đe dọa cưỡng đoạt lấy tiền của bị hại, tiếp đến bắt giữ áp giải bị hại đến nhiều địa điểm khác nhau để thực hiện hành vi đánh, cướp tài sản; đồng thời yêu cầu bị hại gọi điện người thân đem tiền đến chuộc. Cấp sơ thẩm chỉ truy tố, xét xử đối với hành vi tổ chức đánh bạc và cưỡng đoạt tài sản mà không xem xét các hành vi xâm phạm khách thể khác như: Bắt giữ người trái pháp luật, cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản dẫn đến bỏ lọt hành vi phạm tội và người phạm tội. Vụ án đã bị Viện kiểm sát tỉnh kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy án để điều tra lại.

Mặc dù các vụ án bị hủy nêu trên không có trách nhiệm của Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên kịp thời phát hiện kháng nghị hoặc chủ động đề nghị nhưng Phòng 7 thấy cần rút kinh nghiệm nhằm tránh sai sót, vi phạm lặp lại trong thời gian đến để công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử  án hình sự năm 2020 được hiệu quả, chất lượng hơn./.

Nguyễn Quyết Thắng - Trưởng phòng 7 VKSQN