VKSND huyện, thành phố



mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTuần này2
mod_vvisit_counterTháng này2
mod_vvisit_counterTổng cộng356035
Hiện có 27 khách Trực tuyến
"CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN" - Chủ tịch Hồ Chí Minh


Bàn về các quy định mới trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS

 

 

 

 

 

Quy định về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với nhiều nội dung, tình tiết mới so với BLHS năm 1999; tuy nhiên, có một số điểm mới còn chưa được hướng dẫn cụ thể, dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

Trong đó, nội dung chính được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là cơ cấu lại số khung hình phạt, giảm từ 7 khoản xuống còn 6 khoản, thay đổi mức hình phạt của từng khung cho phù hợp với sự thay đổi của số khung, đồng thời sửa đổi, bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng từ khoản 2 đến khoản 5, pháp điển hóa các hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (về các tình tiết quy định tại Điều 104 BLHS 1999) nhằm đảm bảo các quy định này được rõ ràng và thống nhất khi áp dụng vào thực tiễn. Mặc dù tăng về số lượng 2 khung hình phạt so với BLHS 1999, nhưng mức hình phạt thấp nhất và cao nhất không thay đổi. Quy định mới về hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

So với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999 thì Điều 134 BLHS năm 2015 có nhiều điểm mới. Cụ thể, Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung mới tình tiết “dùng vũ khí, vật liệu nổ; dùng a xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê, đối với người chữa bệnh cho mình”. Sửa đổi các tình tiết: “Đối với trẻ em” thành “Đối với người dưới 16 tuổi”; “phụ nữ đang có thai” thành “phụ nữ  mà biết là có thai”; “Để cản trở người thi hành công vụ” thành “Đối với người thi hành công vụ”. Trong những tình tiết mới này có một số điểm nếu như không có hướng dẫn kịp thời sẽ gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cụ thể:

Thứ nhất, về quy định "Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm" tại điểm b khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015.

Việc pháp điển hóa tình tiết này là rất cần thiết trong thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác bằng a-xít, hóa chất. Vì trong thực tiễn, khi các đối tượng sử dụng a-xít, hóa chất tấn công  nạn nhân, tuy nạn nhân không chết nhưng làm cho nạn nhân tàn phế, tổn thương khủng khiếp về tinh thần, làm cho dư luận phẩn uất. Việc xác định dùng a-xít, hóa chất gây thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ thương tật 61% trở lên bằng với hậu quả làm chết 02 người người, hình phạt từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân là phù hợp.

Tuy nhiên, quy định a-xít “nguy hiểm” hoặc hóa chất “nguy hiểm”sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng. Thế nào là a-xít nguy hiểm? A-xít với hàm lượng bao nhiêu được xem là a-xít nguy hiểm hay a-xít làm bỏng da là a-xít nguy hiểm hoặc dùng a-xít, hóa chất tấn công vào vùng nào được xem là nguy hiểm? Nếu lấy hàm lượng a-xít để xác định tính nguy hiểm thì khi không thu được a-xít để giám định hàm lượng thì xử lý như thế nào?

Thứ hai, về quy định “…người già yếu…” tại điểm c khoản 1 Điều 134 BLHS 2015. Vậy người như thế nào là người già yếu? Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.4 Mục 2 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “Người già” là người tử 70 tuổi trở lên, còn theo hướng dẫn tại điểm a, tiểu mục 4.1 Mục 4 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao thì “Người quá già yếu” là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm. Khái niệm “Người già yếu” đến nay vẫn chưa cụ thể.

Như đã nêu trên, “người già” đã được hướng dẫn rõ, nhưng thế nào là “người già yếu” thì vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người nhận định.

Thứ ba, về quy định “…đối với người chữa bệnh cho mình…” tại điểm d khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 sẽ gặp khó khăn trong việc áp dụng như: “Đối với người chữa bệnh cho mình” nếu được hiểu là Bác sỹ, Ý tá… đang chữa bệnh cho đối tượng thực hiện hành vi cố ý gây thương tích… Vậy, người “đã chữa bệnh cho mình”, “chuẩn bị chữa bệnh cho mình” có được xem là“đối với người chữa bệnh cho mình” hay không?

Ngoài ra, quy định này cũng không phù hợp với thực trạng tội phạm gây thương tích xảy ra đối với người làm nghề chữa bệnh. Vì trong thời gian qua, đối tượng gây thương tích cho thầy thuốc và các nhân viên y tế hầu hết đều là người thân của bệnh nhân. Hành vi gây thương tích cho người đang làm công việc cứu người đã gây phẫn nộ trong xã hội nói chung, cho những người làm nghề y nói riêng, vì vậy yêu cầu đặt ra là phải xử lý nghiêm đối với hành vi này. Tuy nhiên với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 thì hành vi này không thể xử lý được.

Thứ tư, quy định về chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. theo đó, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi cố ý gây ra cho người khác bị thương tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ. Thực tiễn áp dụng pháp luật, hậu quả tổn thương về sức khoẻ (được thể hiện trong kết luận giám định của cơ quan chuyên môn) là căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự và xác định khung hình phạt đối với người phạm tội. Nạn nhân phải bị thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ ở mức đáng kể thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự còn nếu thương tích hoặc tổn hại về sức khoẻ không đáng kể hoặc không gây ra tổn hại về sức khoẻ thì chưa phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 thì người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k thì người đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự; còn nếu một đối tượng cố ý gây thương tích cho người khác làm giảm dưới 10% sức khoẻ nhưng không thuộc quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này thì hành vi của người đó không cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trở lại với vấn đề chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015. Chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích được hiểu là tìm kiếm, sửa soạn các công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để nhằm gây thương tích cho người khác, chứ chưa gây ra hậu quả trên thực tế. Như vậy, nếu so sánh trường hợp chuẩn bị phạm tội quy định tại khoản 6 với các trường hợp không cấu thành tội phạm ở khoản 1 Điều 134 thì thấy rằng các trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 rõ ràng nguy hiểm hơn trường hợp chuẩn bị phạm tội nhưng lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Để các quy định của pháp luật có tính khả thi trong thực tiễn, kết cấu của điều luật được chặt chẽ, không mâu thuẫn với các quy định khác, quan điểm cá nhân tác giả cho rằng các cơ quan chức năng cần thống nhất hướng dẫn, giải thích để áp dụng điều luật cho chính xác; đồng thời nên cân nhắc, xem xét bỏ khoản 6 của Điều 134 BLHS năm 2015 và không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích. Nếu các hành vi chuẩn bị phạm tội được nêu tại khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015 mà đủ yếu tố cấu thành của một tội độc lập nào đó được quy định trong Bộ luật Hình sự thì sẽ áp dụng xử lý theo tội phạm đó./.

Trích Kiemsat.vn

 

 

 

 

 

 

Ai phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ trong vụ án ly hôn có yêu cầu chia tài sản chung?

 

 

 

 

Trong vụ án hôn nhân và gia đình, khi đương sự có yêu cầu chia tài sản chung thì Tòa án phải tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ. Tuy nhiên, có vụ án người có yêu cầu chia tài sản là nguyên đơn nhưng có vụ án người yêu cầu chia tài sản là bị đơn, có vụ án họ tự thỏa thuận chia tài sản chung và yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của họ ... Vậy trong vụ án ly hôn, khi Tòa án giải quyết chia tài sản chung thì ai là người phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ?

Khoản 3 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rõ: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ”. Tuy nhiên, việc hiểu và áp dụng quy định này trong thực tiễn vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, ở các trường hợp cụ thể:

Trường hợp bị đơn không đồng ý ly hôn; nguyên đơn là người có yêu cầu chia tài sản và không thỏa thuận được việc chia tài sản chung với bị đơn.

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn; nguyên đơn là người có yêu cầu chia tài sản và không thỏa thuận được việc chia tài sản chung với bị đơn;

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn; bị đơn là người có yêu cầu chia tài sản và không thỏa thuận được việc chia tài sản chung với nguyên đơn;

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn; nguyên đơn là người có yêu cầu chia tài sản và thỏa thuận được việc chia tài sản chung với bị đơn; các vấn đề còn lại trong vụ án không thỏa thuận được.

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn; bị đơn là người có yêu cầu chia tài sản và thỏa thuận được việc chia tài sản chung với nguyên đơn; các vấn đề còn lại trong vụ án không thỏa thuận được.

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn; nguyên đơn và bị đơn tự thỏa thuận được việc chia tài sản chung và đề nghị Tòa án ghi nhận trong bản án hoặc quyết định trước khi hòa giải.

Đối chiếu quy định tại khoản 3 Điều 157 BLTTDS năm 2015 vào các trường hợp trên, hiện có hai loại ý kiến như sau:

Ý kiến thứ nhất cho rằng, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 157 BLTTDS năm 2015 thì nguyên đơn là người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (nếu vợ chồng không thuận tình ly hôn) mà không phân biệt ai là người có yêu cầu chia tài sản và có thỏa thuận được việc chia chia tài sản hay đòi lại tài sản hay không. Trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn thì vợ, chồng mỗi người chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà không phân biệt họ có thỏa thuận được việc chia tài sản chung; có yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận chia tài sản chung trước khi hòa giải hay không.

Ý kiến thứ hai cho rằng, nếu buộc nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là không hợp lý. Bởi lẽ, khi Tòa án phân chia tài chung của vợ chồng thì cả nguyên đơn và bị đơn đều được chia tài sản hoặc hưởng giá trị tài sản thông thường là ngang nhau. Thậm chí việc Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng là theo yêu cầu của bị đơn. Trong khi đó nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản, thẩm định giá theo khoản 2 Điều 165 BLTTDS năm 2015 thì  mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tài sản tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia. Do đó, trong vụ án ly hôn có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng thì phải áp dụng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 157 BLTTDS năm 2015 để xem xét giải quyết như sau:

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn không thuận tình ly hôn và không thỏa thuận được việc chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn không thuận tình ly hôn và thỏa thuận được việc chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn và không thỏa thuận được việc chia tài sản chung hoặc thỏa thuận được việc chia tài sản chung thì mỗi bên phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn và có yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận chia tài sản chung trước khi hòa giải thì mỗi bên phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Trường hợp nguyên đơn và bị đơn không thuận tình ly hôn và có yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận chia tài sản chung trước khi hòa giải thì mỗi bên phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Từ những ý kiến khác nhau về việc xác định ai phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ trong vụ án hôn nhân và gia đình có yêu cầu chia tài sản chung như đã nêu trên cho thấy, việc hiểu và áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 157 BLTTDS năm 2015 là chưa thống nhất. Thiết nghĩ, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần thống nhất, sớm ban hành hướng dẫn áp dụng pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất./.

Trích Kiemsat.vn

 

 

 

 

 

Một số kỹ năng cơ bản về đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

 

Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra phương châm: “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”; khoản 5 Điều 130 Hiến pháp 2013 quy định: Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo; Điều 18 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 phần về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, tại khoản 2 quy định: Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; Điều 322 BLTTHS năm 2015 có quy định quyền được bào chữa của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác, đồng thời quy định trách nhiệm của Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa; Chỉ thị số 09/CT-VKSTC, ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSNDTC về tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Điều 26 Quy chế công tác Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC) quy định cụ thể về trách nhiệm tranh luận của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; các Nghị quyết Chuyên đề của Ban Cán sự Đảng VKSND tỉnh Lạng Sơn về: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. Như vậy; đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm về hình sự là một yêu cầu khách quan, từng bước đáp ứng các yêu cầu về cải cách tư pháp.

 Trong bài viết trao đổi, chúng ta không đề cập đến các khái niệm “đối đáp, tranh luận” và cũng không nêu lại “mục đích, ý nghĩa, yêu cầu” của việc đối đáp, tranh luận mà chỉ trao đổi về kỹ năng “đối đáp, tranh luận” của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự. Trước tiên, để thực hiện việc “đối đáp, tranh luận” tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải thực hiện tốt công tác chuẩn bị, đó là: Phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, tìm ra những vấn đề còn mâu thuẫn, những điểm, chứng cứ còn yếu, đặc biệt phải xem xét đến các chứng cứ buộc tội, gỡ tội (những chứng cứ, tài liệu đó phải là khách quan, toàn diện, đầy đủ và phải đảm bảo việc buộc tội, gỡ tội); phải xây dựng hồ sơ kiểm sát xét xử theo đúng Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC (Các tài liệu, chứng cứ phải được trích lập, sao in đầy đủ, rõ ràng và thể hiện cụ thể các bút lục theo hồ sơ gốc); nhất thiết phải xây dựng kế hoạch xét hỏi gắn liền kế hoạch, dự thảo tranh luận (dựa trên cơ sở các tình huống, dự đoán có thể xẩy ra); phải chuẩn bị các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật còn hiệu lực. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vừa phải tích cực tham gia xét hỏi nhằm đấu tranh làm rõ những chứng cứ, tình tiết chưa rõ, vừa phải tập trung cao độ để theo dõi mọi diễn biến, ghi chép đầy đủ các câu hỏi của Hội đồng xét xử, người bào chữa, các câu trả lời của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác để phán đoán hướng bào chữa; từ đó bổ sung vào dự thảo những ý kiến đối đáp, tranh luận. Nội dung “đối đáp, tranh luận” của Kiểm sát viên tại phiên tòa chủ yếu phụ thuộc vào nội dung tự bào chữa của bị cáo, lời bào chữa của người bào chữa, của bị hại, của nguyên đơn, bị đơn dân sự… khi đối đáp, tranh luận Kiểm sát viên phải vận dụng tổng hợp những hiểu biết, kiến thức của mình về Bộ luật hình sự, Tố tụng hình sự, Luật, các văn bản pháp luật khác (Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao, Thông tư, Nghị định của Chính phủ, Liên ngành Trung ương …) có liên quan đến việc xác định tội danh, điều khoản áp dụng hình phạt, trách nhiệm dân sự … trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, dân sự đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa Kiểm sát viên phải đối đáp, tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm chứng minh luận điểm của Viện kiểm sát là đúng, có căn cứ và luận điểm của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác là không đúng, không đầy đủ, không trung thực...

Theo quy định của pháp luật về Tố tụng hình sự 2015, việc “đối đáp, tranh luận” được bắt đầu sau khi kết thúc giai đoạn thẩm vấn, xét hỏi công khai. Đầu tiên, Kiểm sát viên phải trình bày “luận tội” (Điều 321); tiếp theo bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận về luận tội của Kiểm sát viên. Dưới sự chủ trì của Chủ tọa phiên tòa, Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa (Điều 322). 

Thực tiễn xét xử cho thấy bị cáo, người bào chữa của bị cáo thường đưa ra ý kiến, bào chữa theo các hướng sau:

 Đưa ra cơ sở và căn cứ pháp luật để chứng minh bị cáo không phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Đây là thời điểm thể hiện bản lĩnh cũng như năng lực, trình độ của Kiểm sát viên một cách rõ ràng nhất. Để “đối đáp, tranh luận”, Kiểm sát viên phải bình tĩnh, tự tin vận dụng linh hoạt lý luận pháp luật về cấu thành tội phạm; đồng thời hệ thống, tổng hợp những chứng cứ, tài liệu đã được kiểm tra tại phiên tòa và những tài liệu, chứng cứ khác được thu thập từ giai đoạn điều tra, truy tố đã có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở đó, phân tích một cách lô gic, lập luận một cách chặt chẽ để chứng minh hành vi của bị cáo là phạm tội và cũng nhằm bác bỏ những chứng cứ, căn cứ pháp luật mà bị cáo, người bào chữa của bị cáo nêu ra. Ví dụ vụ án: Cố ý gây thương tích xẩy ra hồi 17h 30’ ngày 09/03/2012 tại khu vực thôn phố Mới, xã Vạn Linh, huyện Chi Lăng. Phạm Tuấn Hưng đã có hành vi dùng dao nhọn gây thương tích cho Nông Văn Mạnh (cán bộ công an huyện Chi Lăng). Tại phiên tòa sơ thẩm Bị cáo quanh co không thừa nhận hành vi mà cho rằng: do Mạnh chủ động lao vào đánh trước và tước dao trên tay Hưng, rồi hai bên có sự giằng co khiến Mạnh bị thương ở ngón I-II bàn tay phải tổn hại 12% sức khỏe. Đối đáp, tranh luận với bị cáo, Kiểm sát viên đã đưa ra các căn cứ về hiện trường, lời khai bị hại, nhân chứng và các tình tiết, diễn biến khác (theo các bút lục trong hồ sơ gốc), đồng thời phân tích, lập luận: Nguyên nhân ban đầu là do hành động khiêu khích của Hưng, mặc dù Hưng cho rằng: Hoàng Văn Doản đỗ xe gây cản trở giao thông, nên Hưng mới dùng xe mô tô của Hưng húc đẩy vào xe Doản và chửi bới thô tục đối với Doản (viện dẫn lời khai nhân chứng, người liên quan xác định xe mô tô của Doản đỗ sát mép đường không ảnh hưởng giao thông); Hưng đã có những lời lẽ lăng mạ, súc phạm danh dự nhân phẩm và đánh Mạnh, khi Mạnh nhìn thấy và vào can ngăn, trong khi đó sự can thiệp của Mạnh (Công an) là một hoạt động đúng đắn, đúng chức trách người công an nhân dân (Mạnh đang mặc trang phục cảnh sát, lời khai bị hại, nhân chứng); sau khi được mọi người can ngăn Hưng đã bỏ đi, còn Mạnh đi vào nhà anh Trần Văn Thơm (cách hiện trường ban đầu 25 m) nhờ vợ Thơm lau hộ vết máu trên vùng mặt (lời khai bị hại, nhân chứng, người biết việc); một lúc sau, Hưng có đi vào nhà Thơm (trên tay phải cầm theo 01 dao nhọn có cán bằng nhựa bản rộng 2,5cm, dài 25cm), Hưng cho rằng vào nhà Thơm để mượn đèn pin soi tìm sợi dây truyền vàng bị rơi khi sô sát trước đó; thấy Hưng đi vào, Mạnh đi ra vườn sau bếp nhà Thơm cách đó 12m, nhưng Hưng lại cho rằng việc gặp Mạnh ở vườn sau nhà chỉ là vô tình không cố ý tìm Mạnh (lời khai của Hưng có mâu thuẫn đã bị bác bỏ); tại vườn sau bếp nhà Thơm, trong tư thế đối diện, hai tay buông xuôi Hưng cho rằng Mạnh chủ động lao vào tước, giật dao trên tay Hưng (điều đó là không thể vì Mạnh cao to hơn Hưng và Mạnh không thể quỳ, cúi xuống để tước dao; mặt khác, vết thương trên tay Mạnh ở khe ngón I-II là sắc gọn có chiều hướng từ lòng ra mu bàn tay phải-không phù hợp với tư thế, động tác tuốt, giật, giằng co nên không chấp nhận)… Từ những phân tích, nhận định và đề nghị của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử đã tuyên Phạm Tuấn Hưng 24 tháng tù; kết quả phúc thẩm y án sơ thẩm.

Đưa ra cơ sở, chứng cứ và căn cứ pháp luật để chứng minh bị cáo có phạm tội nhưng là tội danh khác nhẹ hơn hoặc cùng tội danh nhưng có khung hình phạt nhẹ hơn. Trường hợp này, Kiểm sát viên phải đưa ra các chứng cứ, tài liệu buộc tội để kiểm tra, đối chứng ngay tại phiên tòa (có thể trở lại phần thẩm vấn, xét hỏi); vận dụng lý luận pháp luật về cấu thành tội phạm, những biểu hiện hành vi khách quan của bị cáo; đồng thời phải lập luận, chứng minh rằng tội danh mà bị cáo, người bào chữa nêu ra có ít nhất một yếu tố cấu thành không thỏa mãn, đáp ứng hoặc khung, khoản, điều luật mà bị cáo, người bào chữa đề nghị là không chính xác, không đầy đủ để bác bỏ. Ví dụ: Vụ án cố ý gây thương tích xẩy ra hồi 18h30’ ngày 19/6/2017 tại thôn Tin Đèo, xã Mai sao, huyện Chi Lăng. Hoàng Văn Thượng đã có hành vi dùng cọc tre đánh Linh Thị Duyên tổn hại 12% sức khỏe. Tại phiên tòa sơ thẩm; Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng: Bị cáo phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động mạnh (Bị cáo bị nạn nhân chửi bới, tấn công trước bằng hung khí nguy hiểm); vật chứng thu giữ không đảm bảo khách quan, kịp thời (do người nhà bị hại giao nộp). Đối đáp, tranh luận với Luật sư, Kiểm sát viên đã vận dụng lý luận pháp luật về cấu thành tội phạm (tội: Cố ý gây thương tích ... trong trường hợp tinh thần bị kích động mạnh, Điều 135 BLHS 2015); đồng thời phân tích: Mặc dù hai bên đã có những lời xúc phạm, chửi bới, thách thức lẫn nhau và Duyên đã có hành vi dùng liềm kim loại dài 28cm, lưỡi liềm rộng 1,4cm (liềm cắt lúa) chém một phát trúng vào vùng bụng bên trái của Thượng và tiếp tục dùng liểm đuổi khi Thượng đã bỏ chạy; nhưng trước đó, chính Thượng lại là người chủ động nhẩy xuống ruộng để đánh Duyên; một mặt, sau khi bị Duyên dùng liềm chém, Thượng đã bỏ chạy và luôn ở khoảng cách 5-6m cho đến khi rút được cọc tre bờ dào cạnh đường, Thượng đã chạy ngược lại đánh trả Duyên gẫy tay; mặt khác kết luận giám định thương tích đối với Thượng là 0%. Như vậy, hành vi của Duyên chưa thể bị coi là trái pháp luật nghiêm trọng hoặc tinh thần của Thượng chưa bị coi là bị kích động mạnh vì hành vi của nạn nhân chưa có tính chất đè nén, áp bức nặng nề kéo dài mà chỉ là tức thời nên không thể coi hành vi của Bị cáo là phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động mạnh. Đối với ý kiến thứ hai: Căn cứ Điều 86 BLTTHS quy định về: Chứng cứ, Điều 89 BLTTHS quy định về: Vật chứng; từ đó khẳng định Vật chứng (cọc tre) đã được thu hồi và lập biên bản khách quan, đầy đủ, kịp thời, có sự mô tả đúng thực trạng, kích cỡ lỗ cột, hiện trường … vì vậy, không chấp nhận quan điểm của Luật sư. Từ những phân tích, nhận định và đề nghị của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử đã tuyên Hoàng Văn Thượng 12 tháng tù; kết quả phúc thẩm y án sơ thẩm.

Đưa ra ý kiến thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, nhưng không thống nhất cách đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, hoặc đưa ra một số tình tiết giảm nhẹ khác, về nhân thân … để đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt dưới mức Kiểm sát viên đề nghị hoặc cho bị cáo được hưởng án treo, giảm trách nhiệm bồi thường … Trường hợp này, Kiểm sát viên cần phải ghi chép đầy đủ, tỷ mỉ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường, các tình tiết về nhân thân mà bị cáo, người bào chữa nêu ra; từ đó đối chiếu các quy định của pháp luật để xem xét các tình tiết đó đã được quy định trong luật hay chưa, quy định ở đâu, văn bản còn hiệu lực hay không, còn tình tiết nào chưa được Kiểm sát viên xem xét, cân nhắc để từ đó chấp nhận hay không chấp nhận.Ví dụ: Vụ đánh bạc xẩy ra ngày 17/5/2017 tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng. Luật sư bào chữa cho bị cáo đưa ra quan điểm Bị cáo có thời gian cống hiến trong quân đội, sau khi xuất ngũ được tín nhiệm bầu làm Phó bí thư Chi bộ thôn. Vấn đề nêu trên, Kiểm sát viên cần chứng minh thời gian công tác trong quân đội và ở địa phương bị cáo có những thành tích xuất sắc gì từ đó đối chiếu, vận dụng các tình tiết đã được quy định trong BLHS và các văn bản pháp luật khác để xem xét chấp nhận hay bác bỏ…

Đưa ra ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa hoặc trả lại hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Trường hợp này, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ, nắm vững nội dung bào chữa của bị cáo, người bào chữa để đối chiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các văn bản áp dụng pháp luật về xác định sự thật vụ án, nguồn chứng cứ, vật chứng, bảo quản vật chứng, về công tác giám định, định giá, kết quả giám định; các quy trình thực hiện việc giám định, định giá … đã đảm bảo đúng, đầy đủ, khách quan hay chưa để chấp nhận hay bác bỏ. Ví dụ: Vụ án Nông Văn Phong, tội: Cố ý gây thương tích xẩy ra ngày 02/4/2015 tại xã Bằng Mạc, huyện Chi Lăng. Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo đưa ra quan điểm: Lời khai bị cáo và lời khai nhân chứng có mâu thuẫn nhưng không thể chứng minh tại tòa, đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Vấn đề trên, Kiểm sát viên cần lập luận, viện dẫn các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để khẳng định việc điều tra thu thập chứng cứ là khách quan, đảm bảo đúng trình tự thủ tục tố tụng; lời khai giữa bị cáo, nhân chứng đã được cam đoan, được tiến hành đối chất chứng minh; xét thấy việc điều tra, đối chất không vi phạm gì về thủ tục tố tụng; mặt khác, tại phiên tòa giữa nhân chứng và bị cáo tuy còn có mâu thuẫn về lời khai nhưng không giải thích được lý do tại sao? và Luật sư bào chữa cũng không đưa ra được chứng cứ, tình tiết mới để khẳng định lời khai của Bị cáo là đúng, lời khai nhân chứng là sai, từ đó không có cơ sở, căn cứ để chấp nhận ý kiến Luật sư.

Đối với người bị hại, người bào chữa của bị hại:

Đưa ra lý lẽ chứng minh cơ quan tố tụng bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và yêu cầu xử lý. Kiểm sát viên phải tôn trọng những ý kiến từ phía bị hại, người bào chữa của bị hại; bình tĩnh xem xét kỹ những ý kiến, lý lẽ đó, đồng thời đối chiếu với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án với các văn bản pháp luật; từ đó phân tích, đánh giá có đúng cơ quan tố tụng có bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội hay không. Nếu xác định là không bỏ lọt thì bác bỏ yêu cầu của bị hại, người bào chữa của bị hại; nếu xác định có dấu hiệu bỏ lọt thì Kiểm sát viên có thể đề xuất việc khởi tố bị can để tiếp tục điều tra xử lý tội phạm, người phạm tội này sau nếu không ảnh hưởng đến vụ án đang xét xử, hoặc nếu thấy việc không điều tra bổ sung sẽ ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án và việc điều tra bổ sung này không thể thực hiện được tại phiên tòa, Kiểm sát viên cần vận dụng Thông tư liên tịch số: 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 để đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Đưa ra các lý lẽ, tình tiết tăng nặng để yêu cầu tăng hình phạt. Kiểm sát viên phải căn cứ các quy định của pháp luật, các tình tiết tăng nặng nào đã được cân nhắc, xem xét; tình tiết nào chưa được cân nhắc, xem xét áp dụng để từ đó chấp nhận hay không chấp nhận.

Đưa ra các cơ sở để đề nghị Hội đồng xét xử tăng mức bồi thường thiệt hại. Kiểm sát viên phải xem xét, tổng hợp các tài liệu, chứng từ họ xuất trình có đúng pháp luật hoặc có phù hợp thực tế không. Đối với yêu cầu bồi thường không đúng thì kiên quyết bác bỏ (áp dụng các quy định của BLHS, BLDS, các Nghị quyết của HĐTPTATC để xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại); đối với yêu cầu bồi thường đúng pháp luật nhưng tại phiên tòa các khoản đó vẫn chưa được chi thực tế thì Kiểm sát viên cần phải xem xét kỹ yêu cầu để đề nghị HĐXX có thể tách ra thành một vụ kiện dân sự riêng (khi có đủ chứng từ chứng minh thiệt hại và người bị hại có đơn yêu cầu, hoặc không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo); đối với yêu cầu bồi thường đúng pháp luật nhưng chưa đảm bảo về mặt pháp lý, song đó là các khoản chi có thật, phù hợp với thực tế thì đề nghị chấp nhận.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Thường thì họ đưa ra lý lẽ nhằm tăng quyền lợi, giảm nghĩa vụ. Trường hợp này, cách đối đáp của Kiểm sát viên cũng tương tự như trường hợp bị hại yêu cầu tăng bồi thường, bị cáo xin giảm bồi thường…

Từ những trao đổi về nghiệp vụ nêu trên; có thể nói việc đối đáp, tranh luận tại phiên tòa về hình sự giữa Kiểm sát viên với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác sẽ làm cho phiên tòa trở nên sống động hơn, khách quan hơn; đối đáp tranh luận tốt, có chất lượng sẽ nâng cao vị thế của Kiểm sát viên tại phiên tòa và góp phần nâng cao uy tín, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.

Trích Kiemsat.vn

 

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân*

I- NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM LÀ SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA HỒ CHÍ MINH

1. Quá trình lựa chọn kiểu nhà nước ở Việt Nam

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước. Quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với những nhận thức, tìm kiếm, lựa chọn một hình thức, chế độ nhà nước thích hợp, thúc đẩy dân tộc Việt Nam phát triển theo đúng quỹ đạo tiến bộ xã hội. Ngay ở tuổi trưởng thành, trên quê hương mình, Hồ Chí Minh đã thấy rõ bộ mặt phản nhân tính của nhà nước thực dân phong kiến. Đó là hình thức nhà nước xấu xa, tồi tệ nhất mà nhân loại từng biết đến, nhưng lại là một sản phẩm tất yếu của hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới. Toàn bộ bản chất thật sự của nhà nước đó được Hồ Chí Minh bóc trần, lên án gay gắt trong nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết, trước hết là tác phẩm  Bản án chế độ thực dân Pháp.  Từ đó, Hồ Chí Minh đặt vấn đề về sự cần thiết phải lật đổ nhà nước thối nát đó, nhưng bằng cách nào, con đường nào, lấy gì để thay thế nó thì Người chưa có sẵn một câu trả lời.

Đọc thêm...

 

Đề cao trách nhiệm nêu gương trong học và làm theo Bác

Trong hơn 2 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các cấp ủy, tổ chức đảng trong tỉnh Bình Thuận đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ và đạt được những kết quả tích cực.

Đọc thêm...

 
Các bài viết khác...