VKSND huyện, thành phố

Liên kết Website

 


mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTuần này2
mod_vvisit_counterTháng này2
mod_vvisit_counterTổng cộng17806596
Hiện có 262 khách Trực tuyến
"CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN" - Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những vướng mắc, bất cập quy định tại khoản 2 Điều 21 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và những kiến nghị,

Ngày 18/12/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 505/QĐ-VKSTC về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (gọi tắt là Quy chế 505). Sau khi Quy chế được ban hành, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, qua đó nâng cao kỹ năng tranh tụng của Kiểm sát viên và làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho Nhân dân, kiểm sát đầy đủ các bản án, quyết định của Tòa án, kịp thời phát hiện vi phạm và kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục, góp phần bảo đảm pháp chế trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự. Không có trường hợp nào Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội. Thông qua đây đã đề ra nhiều giải pháp, biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng kiểm sát các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và đã phát hiện nhiều thiếu sót, vi phạm và ban hành nhiều kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng Quy chế trên thực tiễn vẫn còn có những khó khăn, vướng mắc và cũng có nhiều quan điểm xoay quanh quy định tại khoản 2 Điều 21 Quy chế 505 về việc tại phiên tòa Kiểm sát viên có được kết luận về khoản khác nặng hơn trong cùng một điều luật làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử lý đã được lãnh đạo Viện cho ý kiến hay không? Do vậy, cần trao đổi với các đồng chí về nội dung bất cập đồng thời đề xuất cần sửa đổi trong Quy chế 505, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật thống nhất trong toàn ngành.

  Tại khoản 2 Điều 21 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của VKSND tối caoquy định “Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, nếu có căn cứ rõ ràng để rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn trong cùng điều luật làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử lý đã được lãnh đạo Viện kiểm sát cho ý kiến thì Kiểm sát viên quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Sau phiên tòa, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện kiểm sát. Trường hợp có đủ căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để xem xét và báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát quyết định”.

Thông qua quy định trên tại Quy chế 505 có nhiều quan điểm áp dụng như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trongthực tế xét xử hiện nay, tại phiên tòa hình sự nếu có phát sinh những tình tiết mới làm tăng hay giảm mức hình phạt đối với bị cáo, tất cả các Kiểm sát viên đều phải thực hiện việc báo cáo lãnh đạo Viện và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình, riêng đối với việc Kiểm sát viên thực hiện việc truy tố khoản khác nặng hơn trong cùng một điều luật làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử lý đã được lãnh đạo Viện cho ý kiến là chưa đúng theo quy định của pháp luật, tức là Kiểm sát viên chỉ có quyền đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết tăng nặng mà không được đề nghị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng nặng do bị giới hạn bởi quy định tại Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự “Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn” và khoản 3 Điều 321 Bộ luật Tố tụng hình sự “Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng”, còn Hội đồng xét xử có quyền áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại khoản 2 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý người phạm tội “Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”.

Ngoài ra, qua nghiên cứu về Tài liệu giải đáp về những khó khăn, vướng mắc trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (do V7,  V14 phối hợp thực hiện), theo đó tại Mục 57, Phần tố tụng hình sự, hướng dẫn: “Hội đồng xét xử có quyền áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại khoản 2 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý người phạm tội. Kiểm sát viên có quyền đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết tăng nặng mà không được đề nghị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng nặng do bị giới hạn bởi quy định tại Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 3 Điều 321 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Với tính chất là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự, trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể do luật định không chỉ là để kiểm tra lại kết quả của toàn bộ các quyết định tố tụng, hoạt động tố tụng mà Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã tiến hành, tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết định, hoạt động đó, mà còn bảo đảm cho quyết định của Viện kiểm sát được chính xác, khách quan, toàn diện; góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm; góp phần tăng cường bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp kể cả của bị can cũng như những người có liên quan trong vụ án. Thông qua những chứng cứ có tại hồ sơ đã được kiểm tra một cách khách quan và toàn diện, Viện kiểm sát mới có thể ban hành bản cáo trạng thể hiện được tính quyền lực nhà nước, tính có căn cứ và tính đúng pháp luật, bảo đảm đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, làm cơ sở cho hoạt động tranh tụng và phải được Kiểm sát viên bảo vệ tại phiên tòa, chính vì lẽ đó mà Kiểm sát viên không thể tự mình nhân danh bản thân mình mà làm thay đổi quyết định truy tố đã được lãnh đạo Viện phê duyệt được. Đồng thời những người theo quan điểm này cho rằng, vì Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định, nên việc Kiểm sát viên thay đổi khoản khác nặng hơn khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trước đó, sẽ là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và điều này cũng phù hợp với quy định tại Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự về bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự “ Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này" và nếu việc Viện kiểm sát thay đổi với khoản nặng hơn trong cùng một điều luật sẽ “không có lợi” và “ làm xấu đi tình trạng” của bị cáo, ảnh hưởng đến quyền của bị cáo.  

Quan điểm thứ hai cho rằng: Trong quá trình tham gia xét xử hoặc tùy theo diễn biến tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận thấy bị cáo không phạm vào điểm, khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố nhưng phạm vào điểm, khoản khác nặng hơn trong cùng một điều luật thì Kiểm sát viên có quyền kết luận về khoản nặng hơn (tình tiết định khung tăng nặng) khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố và Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình là hoàn toàn phù hợp, vì nếu Kiểm sát viên không được thay đổi mà vẫn tiếp tục bảo vệ theo khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trước đó thì vô hình chung Viện kiểm sát đã thấy sai mà vẫn phải bảo vệ quan điểm truy tố trước đó, điều này không phù hợp với quy định tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự  năm 2015 về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội” đồng thời cũng phù hợp với quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử. Ngoài ra, những người theo quan điểm này còn cho rằng đây là một trong những bước tiến mới theo tinh thần cải cách tư pháp, Kiểm sát viên tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình dựa trên các tài liệu chứng cứ tranh tụng tại phiên tòa, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và cho dù có kết luận về khoản nặng hơn khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật thì cũng nằm trong hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử, do đó không vượt phạm vi giới hạn của việc xét xử và cũng không làm xấu đi tình trạng của bị cáo.

Chính sự mẫu thuẫn giữa Quy chế 505 với các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự đã gây khó khó khăn trong việc áp dụng trong thực tiễn, tạo nên sự lúng túng cho Kiểm sát viên khi tham gia tại phiên tòa nếu rơi vào trường hợp tương tự. Từ những phân tích ở trên và đối chiếu với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành theo cá nhân tôi ủng hộ quan điểm thứ nhất. Vì vậy, tôi mạnh dạn đề xuất cần phải chỉnh sửa lại quy định tại khoản 2 Điều 21 Quy chế 505 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo đúng quy định của pháp luật của Bộ luật Tố tụng hình sự để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất trong toàn Ngành theo hướng bỏ đi cụm từ “nặng hơn” trong cùng một điều luật, cụ thể như sau:

Khoản 2 Điều 21 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của VKSND tối cao) “Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, nếu có căn cứ rõ ràng để rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; kết luận về khoản khác nhẹ hơn trong cùng điều luật làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử lý đã được lãnh đạo Viện kiểm sát cho ý kiến thì Kiểm sát viên quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Sau phiên tòa, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện kiểm sát. Trường hợp có đủ căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để xem xét và báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát quyết định”.

                                                              Huỳnh Thị Khánh Ly

                                 VKSND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

 
Các bài viết khác...