VKSND huyện, thành phố

Liên kết Website

 


mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTuần này2
mod_vvisit_counterTháng này2
mod_vvisit_counterTổng cộng11671529
Hiện có 265 khách Trực tuyến
"CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN" - Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hành vi của Nguyễn Văn C có phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"?

Xem kết quả: / 1
Bình thườngTuyệt vời 

                                         

Khoảng 8h30 ngày 16/01/2015 tại khu Chợ Đàn, phường Tân An, thành phố T, Nguyễn Văn C có hành vi lén lút trộm cắp của chị Võ Thị Diệu X (dì ruột của C ) 01 chiếc xe mô tô trị giá 24.000.000 đồng.

Sau khi trộm cắp được xe, C đi cầm cố nhiều hiệu cầm đồ nhưng không cầm cố được vì C không có giấy phép lái xe.

Vào ngày 20/01/2014, C nói dối với chị X là nhờ người tìm xe nhưng phải đặt cọc trước 4.000.000 đồng, khi nào tìm được xe thì đưa thêm 15.000.000 đồng. Chị X đồng ý nhưng với điều kiện chỉ trả tiền sau khi nhìn thấy xe.

 Khoảng 2h00 ngày 21/01/2015, C nhắn tin cho chị X với nội dung bảo chị X đến nhà giữ xe Bệnh viện Thái Bình Dương, thành phố T để lấy xe, khi lấy xe xong, khoảng 11 giờ mang tiền đến quán cà phê Tình Thương để trả.

Khoảng 10 giờ cùng ngày, chị X được Công an phường Tân An, thành phố T mời đến làm việc nên chị X báo nội dung tin nhắn này cho Công an. Ngay sau đó Nguyễn Văn C bị bắt giữ và đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.                                

Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử Nguyễn Văn C  phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

TAND thành phố T xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1; 2 Điều 46; Điều 60 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời, tại phiên tòa Hội đồng xét xử TAND thành phố T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (với nội dung vụ án như trên).

Xung quanh vụ án trên có nhiều quan điểm khác nhau đối với hành vi của Nguyễn Văn C: Quan điểm thứ nhất cho rằng hành vi của Nguyễn Văn C phạm tội 01 tội “Trộm cắp tài sản”; quan điểm thứ hai cho rằng hành vi của Nguyễn Văn C phạm tội 02 tội: Vừa phạm tội “Trộm cắp tài sản”, vừa phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Riêng ý kiến của cá nhân tôi, tôi đồng ý với quan điểm thứ nhất, nghĩa là hành vi của Nguyễn Văn C chỉ phạm 01 tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C không đủ dấu hiệu cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 139 BLHS, vì không thỏa mãn về mặt khách thể của tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bởi:

Khách thể của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nói riêng và các tội xâm phạm sở hữu nói chung là quan hệ sở hữu – tức là xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Các tội xâm phạm sở hữu phải là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại này phải phản ánh được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Trong vụ án này, tại thời điểm Nguyễn Văn C có hành vi lừa dối chị X thì về mặt thực tế chị X đã mất các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với chiếc xe mô tô trị giá 24.000.000 đồng (do bị lấy trộm). Khi C nói dối với chị X là nhờ người tìm xe nhưng phải đặt cọc trước 4.000.000 đồng, khi nào tìm được xe thì đưa thêm 15.000.000 đồng; chị X đồng ý nhưng với điều kiện chỉ trả tiền sau khi nhìn thấy xe.

Nghĩa là, chị X đồng ý tham gia quan hệ giao dịch trao đổi tài sản qua lại với Nguyễn Văn C để hướng tới lợi ích trong quan hệ đó là quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt) đối với chiếc xe mô tô đã bị mất; điều này là hoàn toàn do sự tự do lựa chọn của chị X (giá trị tài sản chị X hướng tới lớn hơn số tiền chị X bỏ ra).   

Nguyễn Văn C có đưa ra thông tin không trung thực để lừa dối chị X nhưng thực chất đây là thủ đoạn để C che dấu hành vi trộm cắp trước đó của mình nhằm mục đích tiêu thụ tài sản do mình trộm cắp được.

Mặt khác, chị X vẫn có sự lựa chọn khác để lấy lại quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) đối với chiếc xe mô tô như yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền can thiệp theo Điều 255 Bộ luật dân sự quy định, không bắt buộc phải làm theo như C nói.

Thực tế chị X đã khai tại phiên tòa rằng: Do nghi ngờ có người đứng đằng sau xúi giục Nguyễn Văn C nên chị X vờ đồng ý với C trong việc nhờ người tìm xe, nếu có tìm được xe thì chị X cũng không giao tiền.

Căn cứ vào lý luận về tội phạm, căn cứ vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, căn cứ vào nội dung cụ thể của vụ việc, tôi thấy không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139.

Thông qua bài viết này, tôi muốn nhận được ý kiến trao đổi của bạn đọc nhằm làm sáng tỏ các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 BLHS.

 

Nguyễn Thị Vân