VKSND huyện, thành phố

Liên kết Website

 


mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTuần này2
mod_vvisit_counterTháng này2
mod_vvisit_counterTổng cộng13248162
Hiện có 375 khách Trực tuyến
"CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN" - Chủ tịch Hồ Chí Minh

Các hoạt động xác minh của Cơ quan điều tra khi thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Xem kết quả: / 1
Bình thườngTuyệt vời 

Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là nhiệm vụ hết sức quan trọng, mở đầu cho các hoạt động tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm là những tài liệu quan trọng vì sau khi kết thúc quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan thụ lý giải quyết phải căn cứ vào các tài liệu này để ra một trong các quyết định được quy định tại Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLTTHS năm 2015), trong đó có Quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy định, khi tiến hành giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra được tiến hành một số biện pháp, thủ tục cần thiết để tiếp nhận, kiểm tra, xác minh và xử lý theo luật định mọi thông tin về tội phạm.

Trước đây, hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT- BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tại Khoản 3, Điều 10 Thông tư này quy định thẩm quyền của Điều tra viên khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố như sau:

“Điều tra viên được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Lập hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố;
       b) Triệu tập và lấy lời khai của những người có liên quan nhằm kiểm tra, xác minh nguồn tin;

       c) Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng;
       d) Tiến hành các hoạt động khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra”.

Theo như quy định này thì Điều tra viên được tiến hành các biện pháp điều tra cần thiết trong đó có các biện pháp như: Nhận dạng, đối chất để giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố.

Hiện nay, hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCABQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, những nội dung được quy định tại Khoản 3, Điều 10 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 đã không được quy định chuyển tiếp vào trong cả 02 văn bản quy phạm pháp luật nêu trên. Cụ thể:

Tại Khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 quy định về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

“Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:

a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin;

b) Khám nghiệm hiện trường;

c) Khám nghiệm tử thi;

d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.”

Tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư liên tịch số 01/2017 quy định về “Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố” đã không quy định cụ thể những hoạt động của Cơ quan điều tra khi tiến hành giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố mà chỉ quy định: “Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết, Thủ trưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, phân công Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc quyền thụ lý, giải quyết hoặc ra Quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra tổ chức, chỉ đạo thụ lý, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền”.

Như vậy, theo nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCABQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 thì những biện pháp điều tra như: Nhận dạng, đối chất, nhận biết giọng nói, xem xét dấu vết thân thể đã không được quy định cụ thể vào Khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 mà chỉ nêu chung là hoạt động thu thập thông tin, tài liệu từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin tội phạm. Tuy nhiên, có thể thấy những biện pháp xác minh này đã được quy định rải rác trong các điều luật cụ thể khác của BLTTHS, do đó đã có quan điểm cho rằng: Khi thụ lý giải quyết nguồn tin tội phạm, Cơ quan điều tra chỉ được áp dụng các biện pháp quy định tại Khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015. Song cần phải vận dụng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự một cách đầy đủ để xem xét giải quyết nguồn tin về tội phạm. Theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng có thể căn cứ vào các quy định khác trong BLTTHS năm 2015 mà áp dụng giải quyết nguồn tin tội phạm như sau:

Thứ nhất, căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên được quy định tại Điều 37 BLTTHS năm 2015, theo đó Điều tra viên được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn như: Trực tiếp kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng.

Thứ hai, căn cứ quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 83 BLTTHS năm 2015 quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người được người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có quyền: Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Thứ ba, theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 BLTTHS năm 2015 thì: “Khi cần thiết, Điều tra viên tiến hành xem xét dấu vết của tội phạm hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án trên thân thể người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị hại, người làm chứng. Trong trường hợp cần thiết thì Cơ quan điều tra trưng cầu giám định”. Như vậy, với quy định này thì Điều tra viên vẫn có thẩm quyền tiến hành việc xem xét dấu vết trên thân thể của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Và tại Điểm a Khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 quy định: “Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền thu thập thông tin tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin”.

Như vậy, mặc dù Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCABQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 và Khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 không quy định cụ thể những hoạt động xác minh mà Cơ quan điều tra có thể thực hiện để tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, nhưng căn cứ vào các quy định khác của BLTTHS năm 2015 thì khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Điều tra viên vẫn có thẩm quyền tiến hành các hoạt động như: Đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, xem xét dấu vết thân thể của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Từ những vấn đề đã phân tích, nhận thấy cần phải có sự nghiên cứu đầy đủ và toàn diện BLTTHS năm 2015 để nhận thức và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm được đầy đủ, thống nhất.

 Trần Xuân Vĩ – Phòng 2 VKSND tỉnh Quảng Nam

 
Các bài viết khác...