VKSND huyện, thành phố

Liên kết Website

 


mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTuần này2
mod_vvisit_counterTháng này2
mod_vvisit_counterTổng cộng17753679
Hiện có 241 khách Trực tuyến
"CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN" - Chủ tịch Hồ Chí Minh


Nội dung học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh (32)


TỪ BÀI THƠ “NGUYÊN TIÊU”

 

Nguyên tiêu Mậu Tý 1948, Bác Hồ có bài thơ nổi tiếng ''Nguyên tiêu''

 

 Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên

Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

 

 Đồng chí Xuân Thủy (nghe nói rằng, Bác bảo: Trong bài thơ này có tên chú, vậy chú hãy dịch). Xuân Thủy đã chuyển lục bát như sau:

 

Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng)

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

 

 Bài thơ chuyển lục bát khá nhuần nhụy và sát ý, chỉ tiếc rằng ''yên ba thâm xứ'' mà chỉ là ''giữa dòng'' thì chưa lột tả được sự mông lung, sâu thẳm nơi sông nước mà nguyên tác nêu ra; thêm nữa câu 4 cũng có phần chưa cho thấy sự trữ tình và lồng lộng của tứ thơ. Sinh thời, Bác Hồ khen - tôi không còn nhớ là ai - dịch câu 4 rằng: ''Nửa đêm về với con thuyền đầy trăng'' là hay.

 

Năm nay trong khi lướt qua các trang báo xuân, tôi chợt nghĩ đến bài Nguyên tiêu của Bác Hồ. Trăng đã nhiều lần vào trong thơ Người giữa khi việc nước bộn bề. Một sự ung dung, bình thản, tự tin vào thắng lợi cuối cùng. Bác Hồ của ta còn: ''Việc quân việc nước đã bàn. Xách bướng giắt trẻ ra vườn tưới rau”. Tôi chỉ dám nói: Tuyệt vời một con người.

 

Từ bài Nguyên tiêu năm ấy sau khi ta chiến thắng lẫy lừng ở Việt Bắc, thu đông 1947, tôi đọc trên Tạp chí Sách và đời sống số Xuân năm nay bài: ''Ngày tết, kính biếu gia đình Luật sư Lôdơbai cành đào Việt Nam'' do nhà nhiếp ảnh Nguyễn Kim Côn kể và được ghi lại bởi nhà báo Dương Tuấn Hoa. Tôi kết hai chuyện này với nhau vì cả hai đều diễn ra trong mùa xuân Mậu Tý, cách nhau 1 giáp, và cả hai đều có con người trung tâm: Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Chúng ta đều biết, Luật sư Lôdơbai đã cứu được Bác Hồ ta khi đó có tên là Tống Văn Sơ khỏi tù ngục đế quốc Anh ở Hương Cảng năm 1933. Không những vậy, việc này còn làm thất bại âm mưu của thực dân Pháp định giăng bẫy bắt Người. Theo lời mời của Bác, ông bà luật sư cùng cô con gái Patricia sang thăm nước ta giáp tết năm 1960. Trong ngôi nhà sàn tại Chủ tịch phủ, Bác Hồ đã tiếp thân tình luật sư và tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối vơi ông. Phần mình, luật sư không nhận mình là ân nhân mà chỉ nói ông đã ''hành động theo lẽ phải, theo phẩm chất của một luật sư chân chính''. Ông từng nói: ''Không phải tôi đã cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh mà là Chủ nghĩa nhân đạo của Người đã cứu Người, vì Chủ nghĩa nhân đạo của Người nên các bạn tôi ở Hạ Môn, Hồng Kông và trên cả nước Anh cũng nhiệt tình giúp tôi giải thoát cho Người''.

 

 Người kể chuyện hiểu rằng, ngoài sự tế nhị, lịch thiệp của luật sư, ông còn muốn nói lên một điều sâu xa hơn, có thể hiểu như một thứ ánh sáng toát ra từ phẩm chất Bác Hồ khiến cho con người có lương tri như vị luật sư khả kính quyết định hết lòng giúp Người. Thứ ánh sáng đó sau này được nhà thơ Tố Hữu diễn tả thần tình: ''Ta bên Người / Người tỏa sáng trong ta...''

 

 ... Gia đình luật sư được bố trí thăm Vịnh Hạ Long, thăm Hòn Đá chọi, thăm hang Bồ Nâu và trên đường về Hà Nội, không khí xuân đã tràn ngập với đào thắm, với mai và sự hân hoan của người dân. Khi đoàn xe xuống phà Bính đông người, một ông già bên Thủy Nguyên hỏi nhà báo: ''Tây ở đâu mà sang ăn tết ta ?''. Và khi được biết, đây không phải là ''tây thường đâu'' mà chính là gia đình vị luật sư Lôdơbai sang thăm Bác Hồ... Ông già Thủy Nguyên liền hướng đến vị luật sư, xin được hỏi lại sự tích và biết chuyện, ông liền dúi cành đào thắm vào tay luật sư và nói: ''Tôi ở bên Thủy Nguyên đem cành đào này đến phố Cát Dài cho cháu ngoại, rồi tôi ra phố Cầu Đất viết câu đối tết... Không ngờ, thật không ngờ, trời đất lại cho tôi được gặp vị đại ân nhân của đất nước trên chuyến phà này. Thưa cụ Luật sư Lôdơbai, nếu không có cụ cứu được Bác Hồ thì chúng tôi đâu đã được độc lập, được đón xuân vui vẻ như hôm nay... Thật là hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, chữ ÂN của cụ nặng như núi, cụ ơi! Muôn đời cháu con chúng tôi cũng không trả nổi. Với tấm lòng thành của một người dân Cụ Hồ, tôi xin kính biếu cụ cành đào này và xin cụ hãy nhận ở tôi ba lễ''. Miệng nói, tay dúi cành đào tặng cụ luật sư, ông đồ Thủy Nguyên vội quỳ thụp xuống sàn phà vái luôn ba vái.

 

Qua phút xúc động, cụ luật sư nâng ông đồ lên rồi nói: ''Cảm ơn cụ! Cảm ơn cụ! Tôi không phải là ân nhân, càng không phải là đại ân nhân đâu. Tôi là người luật sư vô cùng kính trọng Tống Văn Sơ, đã cùng đồng nghiệp và người thân của mình làm đúng bổn phận của mình. Một người như Tống Văn Sơ thật đáng kính trọng và mến phục. Sự hấp dẫn ở đạo đức và trí tuệ của Tống Văn Sơ càng khích lệ mọi người làm điều tốt, phải không cụ?... Tôi xin nhận cành đào này và cành đào này sẽ thắm mãi trong lòng tôi. Bây giờ, tôi lại nhờ cụ giúp tôi một việc: Cụ hãy chuyển cành đào này cho cháu ngoại cụ và hãy nói với cháu rằng: Đây là cành đào của luật sư người Anh tên là Lôdơbai gửi tặng cháu để đón Xuân. Chúc cháu luôn học giỏi và xứng đáng là cháu ngoan của Chủ tịch Hồ Chí Minh!''.

 

 Biết nói gì? Tôi đã xúc động suốt mấy ngày tết vì câu chuyện ấm lòng trên và có lần ứa nước mắt. Nhân dân ta thông qua lời ông đồ Thủy Nguyên năm nào tỏ lòng tri ân với tấm lòng trượng nghĩa của vị luật sư khả kính và ông đồ đã bày tỏ lòng biết ơn giản dị và chân thành nhất. Bác Hồ ta và những người năm ấy đã khuất song ''ôn cố nhi tri tân'' thì lại là chuyện của muôn đời! Nhất là khi toàn Đảng, toàn dân đang phát động việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh khởi đầu từ xuân này.

                                                       

Theo Báo Long An

 

Nội dung học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh (33)

MỘT SỐ LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG

Đối với mình - Phải siêng nǎng, không được lười biếng, ai lười biếng không làm được việc. Phải tiết kiệm, không xa xỉ, vì xa xỉ hoá ra tham lam, nhất là đối với tiền bạc của đoàn thể phải rất phân minh.

Con đường giải phóng. Tháng 12 nǎm 1940.

Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh   



Người làm việc trong hang đá ở 

Việt Bắc

- Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh.

 Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

  Mấy nǎm kháng chiến, các cô, các chú đã học được nhiều đức tính tốt. Về xuôi nhất là về thành thị, sẽ có nhiều người phức tạp, nhiều thứ quyến rũ mình vào thói xấu.

                              Bài nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ

                                        trước khi vào tiếp quản Thủ đô.

                                          Ngày 5 tháng 9 nǎm 1954.

  - Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài  không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai

           Bài nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I. 

                                                Ngày 12 tháng 6 nǎm 1956

- Công trạng của cá nhân chủ yếu là nhờ tập thể mà có. Vì vậy người có công trạng không nên tự kiêu mà cần khiêm tốn. Khiêm tốn và rộng lượng, đó là hai đức tính mà người cách mạng nào cũng phải có.

          Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn trung, cao cấp của Bộ Quốc phòng

                và các lớp trung cấp của các tổng cục. Tháng 5 nǎm 1957.

 

 - ...Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa, thì không thành trời.

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.
            .....


Hồ Chủ tịch trong phòng làm việc của Người

 ở Phủ Chủ tịch nǎm 1946

 Cần với Kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

Cần mà không Kiệm, "thì làm chừng nào xào chừng ấy". Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

Kiệm mà không Cần, thì không tǎng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

....

Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

      Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

                                       Cần Kiệm Liêm Chính. Tháng 6 nǎm 1949.  

- Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra đòi hỏi hưởng thụ, đãi ngộ. Người ta ai cũng muốn ǎn ngon mặc đẹp, nhưng muốn phải cho đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ǎn ngon mặc đẹp, như vậy là không có đạo đức.

           Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn trung, cao cấp của Bộ Quốc phòng

              và các lớp trung cấp của các tổng cục. Tháng 5 nǎm 1957.

 

... Kiên trì và nhẫn nại,

Không chịu lùi một phân,

Vật chất tuy đau khổ

Không nao núng tinh thần.

                                 Bốn tháng rồi.

                Nhật ký trong tù. Nǎm 1942-1943.

 



Từ chiếc máy chữ này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đời nhiều vǎn kiện quan hệ đến vận mệnh của Tổ quốc


 

- Trong cuộc đấu tranh to lớn, lâu dài, gay go, ít nhiều đảng viên, ít nhiều nơi không tránh khỏi những khuyết điểm như: chủ quan, hẹp hòi, mạo hiểm, hủ hoá, xa quần chúng, chủ nghĩa địa phương, không giữ kỷ luật, làm việc luộm thuộm, tự kiêu, tự mãn.

- Dù đó là những chứng bệnh thành niên, nhưng từ nay, Đảng đòi hỏi các đảng viên phải kiên quyết tẩy cho kỳ sạch những bệnh ấy. Vì nếu không trị cho khỏi hết, thì nó có thể lây ra mà trở nên rất nguy hiểm cho Đảng.

                 Kiểm điểm công việc của Đảng. Tháng 1 nǎm 1949.
                 Tư liệu  Bảo tàng Hồ Chí Minh

 

 - Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.

Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.
Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình.

                                Cần kiệm liêm chính. Tháng 6 nǎm 1949.

 - Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:

+ Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.

+ Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

+ Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

+ Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư.

                     Phải tẩy sạch bệnh quan liêu. Báo Sự thật, số 140,
                                          ngày 2 tháng 9 nǎm 1950.

 



Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Tổng tư lệnh
 tối cao

-  Dao có mài, mới sắc.
          Vàng có thui, mới  trong.
            Nước có lọc, mới sạch.
        Người có tự phê bình, mới tiến bộ.

    Tự phê bình. Báo Nhân dân,

  số 9, ngày 20 tháng 5 nǎm 1951.

- Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói "cả vú lấp miệng em", ngǎn cản quần chúng phê bình.

Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan.

Báo Nhân dân, số 176, từ ngày 6 đến 10-4-1954

 

 

Nội dung học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh (34)


NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG QUA MỘT SỐ TƯ LIỆU GỐC TẠI
BẢO TÀNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới đã về với cõi vĩnh hằng được gần 38 năm. Người ra đi, nhưng đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản vô cùng to lớn - đó là tư tưởng về đạo đức cách mạng.

 

Có thể nói rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, nền đạo đức đã được hình thành hàng ngàn năm suốt chiều dài lịch sử dân tộc và kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông cũng như tinh hoa đạo đức của nhân loại và dựa trên nền tảng tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Song, với tư duy độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đức của quá khứ, đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Thông qua các tác phẩm, các bút tích gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy trong lĩnh vực đạo đức cách mạng, Người thường sử dụng nhiều khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đã có trong Nho giáo từ mấy trăm năm trước Công nguyên; hoặc các khái niệm tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái… xuất hiện tại Tây Âu từ thời Hy-La cổ đại. Song Chủ tịch Hồ Chí Minh đã "Việt Nam hóa" thành các khái niệm đơn giản dễ hiểu, dễ thực hiện và gần gũi hơn với cán bộ và nhân dân lao động.

Nhìn chung, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng có thể khái quát thành bốn nội dung cơ bản, là : Trung với nước, hiếu với dân ; Yêu thương con người; Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng. Trong hàng trăm trang tư liệu gốc – các bản thảo quí hiếm của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang có vinh dự được lưu giữ, thì hai nội dung được đề cập đến nhiều nhất, đó là Trung với nước, hiếu với dân và Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Phẩm chất trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống của người phương Đông, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng và đưa vào đó những nội dung mới. Tư tưởng trung với nước, hiếu với dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những kế thừa giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì trung với nước là trung thành với sự nghiệp cách mạng, với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân chính là chủ nhân đích thực của nước.

Như chúng ta đã biết, sau gần 30 năm bôn ba ở nước ngoài đi tìm đường cứu nước, tháng 1 năm 1941 trở về Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập báo Việt Nam Độc lập (số đầu tiên ra ngày 1-8-1941) để tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Thông qua những mẩu chuyện, những tin, bài ngắn, súc tích, dễ hiểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt, qua đó để giáo dục tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, tinh thần dám xả thân vì độc lập tự do của dân tộc. Trên báo Việt Nam độc lập, số 3 ra ngày 21-8-1941, ngay trên trang nhất, báo đã in trang trọng câu thơ: "Có Tổ quốc mới có ta; Nước là rất trọng ta là rất khinh" (Khinh là xem nhẹ - TVH). Còn trong một tài liệu khác dưới tiêu đề "Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh" do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo (bản gốc hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam), Người kịch liệt phê phán những cán bộ miệng thì nói dân chủ, nhưng khi thực hiện công việc thì lại theo lối quân chủ và xa rời nhân dân. Người viết: Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra? Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân: do đó mà không hiểu tâm lý của nhân dân, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là dân ngu khu đen, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị cao xa như mình.

Sợ nhân dân: Khi có sai lầm khuyết điểm thì lại sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy dễ mấy làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân thì việc khó mấy to mấy cũng làm được.

Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy quyền lợi thiết thực, lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc, đối với dân không thể lý luận suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của sức người của nhân dân.

Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra cách chữa bệnh quan liêu mệnh lệnh là phải theo đúng đường lối quần chúng và phải thực hiện tốt 6 điều:

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình.

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm kiểu mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.

Thực ra tư tưởng Hồ Chí Minh về chống bệnh quan cách, ức hiếp nhân dân đã được Người cảnh báo từ trước cách mạng Tháng Tám 1945. Khi hình thành khu giải phóng, có một số cán bộ hống hách, ức hiếp, ăn chặn của dân, xa rời dân, báo Việt Nam độc lập đã có một loạt bài lên án các ông quan cách mạng tha hóa ấy.

"Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" là một phẩm chất đạo đức gắn liền với các hoạt động hàng ngày của mọi người. Nhưng đối với những người cách mạng, thì đây là một phẩm chất quan trọng nhất. Vì vậy, trong các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng phẩm chất này được đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cần kiệm liêm chính, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau. Có khi Người coi cần kiệm như hai chân của con người, phải đi đôi với nhau, có khi Người coi cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính quan trọng của mỗi con người, mà thiếu một đức tính thì không thành người. Đức tính cần kiệm được thể hiện ngay trong các việc làm nhỏ nhất và thường nhật của Người. Trong hơn 300 bài báo, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang lưu giữ bản gốc, thì có tới 90% bài viết Người sử dụng các mảnh giấy loại đã viết một mặt: như bản tin, giấy tiêu đề của Chủ tịch phủ in bằng tiếng Trung Quốc, thậm chí có những bản thảo bài báo ngắn khoảng gần 200 chữ, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng hai mảnh giấy nhỏ chắp lại. Trong một tài liệu dài 5 trang đánh máy do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm 1949 dưới tiêu đề "Kiểm điểm công việc của Đảng", Người đã chỉ ra một số khuyết điểm của các đảng viên, như: Trong cuộc đấu tranh to lớn, lâu dài, gay go, ít nhiều đảng viên, ít nhiều nơi không tránh khỏi những khuyết điểm: chủ quan, hẹp hòi, mạo hiểm, hủ hóa, xa quần chúng, chủ nghĩa địa phương, không giữ kỷ luật, làm việc luộm thuộm, tự kiêu, tự mãn v.v...

Dù đó là chứng bệnh thanh niên (có lẽ từ bệnh thanh niên ở đây nên hiểu là bệnh ấu trĩ - TVH), nhưng từ nay Đảng đòi hỏi các Đảng viên phải kiên quyết tẩy cho kỳ sạch những bệnh ấy, vì nếu không trị cho khỏi hết thì nó có thể lây ra mà trở nên rất nguy hiểm cho Đảng. Sau đó Người viết tiếp: Mỗi một đảng viên phải kiên quyết thực hành những việc sau đây:

- Nghiên cứu chủ nghĩa (không hiểu chủ nghĩa thì như mò trong đêm tối).

- Gần gũi quần chúng (cách xa quần chúng, thì việc gì cũng không thành).

- Giữ nghiêm kỷ luật (kỷ luật không nghiêm thì lực lượng kém sút)

- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư (không làm được như thế, thì không xứng đáng là người cộng sản).

Trong một số tài liệu khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng, người cán bộ phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, vì trách nhiệm trước nhân dân chính là một trong những thước đo quan trọng về phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ đảng viên. Dưới tiêu đề "Tinh thần trách nhiệm", một bài báo được viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và lấy bút danh là C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý giải về tinh thần trách nhiệm của người nấu bếp, của người cán bộ quân sự được thể hiện các công việc hàng ngày và cuối cùng Người kết luận: Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ. Cũng nằm trong phông tư liệu gốc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang lưu giữ có một tập Bản thảo chương trình lớp huấn luyện bổ túc cấp xã do Bộ Nội vụ chuyển giao ngày 14-8-1958. Tập bản thảo dài 27 trang đánh máy trên giấy dó đã ngả màu. Đây là tập giáo trình do Bộ Nội vụ soạn thảo từ năm 1949 dùng để tập huấn bổ túc kiến thức lãnh đạo cho cán bộ cấp xã trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Điều đặc biệt là tập bản thảo này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc và sửa chữa trực tiếp. Tại mục D - Công việc lãnh đạo từ nay về sau phải như thế nào? của phần thứ V giới thiệu về "Phối hợp lãnh đạo", trong dự thảo có 5 tiểu mục là: Nhận thức cho rõ vai trò lãnh đạo; Học tập nghiên cứu; Phải có tinh thần trách nhiệm; Cùng nhau bàn bạc để thống nhất ý chí; Theo dõi đôn đốc điều tra. Sau khi xem Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thêm một số ý vào các tiểu mục và bổ sung thêm 2 tiểu mục mới. Cụ thể như sau: Tiểu mục Học tập nghiên cứu, Người sửa thành Học tập phương pháp lãnh đạo; tiểu mục Cùng nhau bàn bạc để thống nhất ý chí, Người sửa thành "Cùng nhau bàn bạc thống nhất chủ trương hành động"; Còn 2 tiểu mục Chủ tịch Hồ Chí Minh mới thêm là: 6/-Kiểm thảo; 7/- Học hỏi thêm. Sau đó Người viết thêm: Bất kỳ công việc gì, còn một người dân chưa hiểu rõ, chưa làm đúng tức là lãnh đạo còn kém (7). Cuối cùng, trong phần câu hỏi thảo luận, Người viết : Muốn lãnh đạo: 1/- Người cán bộ hiểu thật rõ công việc; 2/- Phải tìm cách giải thích cho mọi người hiểu việc đó; 3/- Cán bộ phải xung phong gương mẫu(8).

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, thì tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc không thể thiếu được trong xây dựng nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng. Trong một bài báo dưới tiêu đề Phê bình (bản gốc lưu tại BTCMVN viết là Fê bình), được viết vào năm 1951 đã đăng trên báo Nhân dân, số 16 ra ngày 12-7-1951, sau khi giải thích thế nào là phê bình, cách thức phê bình, mục đích phê bình, nguyên tắc phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ... Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình. Song phê bình phải đường hoàng, chính đáng, tuyệt không nên "thầm thì thầm thụt", viết thư dấu tên như một vài cán bộ Thái Nguyên đã làm - (Chữ Thái Nguyên trong bản gốc, khi đưa đi đăng báo đã sửa lại thành ở T.N) (9). Phần cuối bài báo Người viết: Người ta luôn luôn cần lửa và nước cho đời sống. Người cách mệnh và đoàn thể cách mệnh cần phê bình và tự phê bình cũng thiết tha như người ta cần lửa và nước – (Theo như bản gốc thì 2 từ lửa và nước trước khi đăng báo sửa thành không khí).

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là một di sản tinh thần vô cùng quí báu của Đảng và dân tộc ta. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, vấn đề đặt ra không chỉ ở chỗ thừa nhận và khẳng định những giá trị thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, mà một điều rất quan trọng là vận dụng và phát triển những giá trị tư tưởng đó vào sự nghiệp xây dựng đội ngũ cán bộ của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Những tư liệu gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là những di sản vật chất quí báu để góp phần nghiên cứu tư tưởng của Người.

                                            

Th.s Triệu Văn Hiển

(Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)