VKSND huyện, thành phố

Liên kết Website

 


mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTuần này2
mod_vvisit_counterTháng này2
mod_vvisit_counterTổng cộng18711272
Hiện có 379 khách Trực tuyến
"CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN" - Chủ tịch Hồ Chí Minh


Phân biệt tội “giết người” với tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”

Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 
Việc phân biệt tội “giết người” với tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” trong nhiều trường hợp rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi người tiến hành tố tụng không những nắm vững cấu thành tội phạm cơ bản mà cần phải có kỹ năng phân tích, tổng hợp và kinh nghiệm thực tiễn giải quyết vụ án.

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015) quy định các tội danh khác nhau là căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; căn cứ vào quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ (khách thể của tội phạm); căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi của mình (lỗi); căn cứ vào nhân thân người phạm tội, trong một số trường hợp căn cứ vào giới tính, độ tuổi của người phạm tội và bị hại…

Về lý luận, muốn phân biệt tội này với tội khác thì không chỉ có trình độ pháp lý, nắm vững các yếu tố cấu thành tội phạm, mà còn phải có kỹ năng phân tích, tổng hợp và kinh nghiệm thực tiễn.

Khi phân biệt tội “giết người” (Điều 123) với tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (Điều 134), cần lưu ý các trường hợp sau:

- Trong trường hợp nạn nhân bị chết:

Ở cả hai tội này, người phạm tội đều thực hiện hành vi là do lỗi cố ý; đều thực hiện hành vi khách quan tương tự như nhau (bắn, đâm, chém, đánh, đấm, đá…) và nạn nhân đều bị chết.

Tuy nhiên, đối với tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác”, người phạm tội chỉ cố ý làm cho nạn nhân bị thương hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, không mong muốn cho nạn nhân bị chết, cũng không bỏ mặc cho nạn nhân chết; nạn nhân bị chết là ngoài ý muốn của người phạm tội.

Đối với tội “giết người”, người phạm tội cố ý tước đoạt tính mạng của nạn nhân. Nếu không phải là do cố ý trực tiếp (cố ý có dự mưu, cố ý xác định) thì cũng là cố ý gián tiếp (cố ý đột xuất, hoặc cố ý không xác định), tức là không cần quan tâm đến hậu quả.

Ở tội “giết người”, hành vi tấn công của người phạm tội bao giờ cũng quyết liệt hơn, cường độ tấn công mạnh hơn, nhằm vào những nơi xung yếu của cơ thể như: Vùng đầu (sọ não, gáy), ngực, ổ bụng… Còn đối với tội “cố ý gây thương tích  hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, người phạm tội tấn công nạn nhân không quyết liệt, nếu có quyết liệt thì cũng chỉ tấn công vào những nơi khó gây ra cái chết cho nạn nhân như: Chân, tay, mông, nếu có tấn công vào nơi xung yếu của cơ thể của nạn nhân thì cũng chỉ tấn công vào nơi đã định như mắt, mũi, tai, miệng.

Thực tiễn, nhiều trường hợp người phạm tội chỉ khai không muốn làm nạn nhân chết. Do đó, phải kết hợp với ý thức chủ quan của họ để xác định là giết người hay cố ý gây thương tích, đồng thời phải căn cứ vào biên bản giám định pháp y về cơ chế hình thành vết thương, đặc biệt là nguyên nhân gây ra cái chết cho nạn nhân.

Thực tế hiện nay, việc phân biệt 02 tội trên trong trường hợp nạn nhân chết chủ yếu đối với những vụ đánh nhau giữa hai hoặc nhiều người dẫn đến có người chết. Trước đây, cũng có quan điểm cho rằng, nếu đánh nhau nhưng nạn nhân không chết ngay, mà phải 04 đến 05 ngày sau mới chết hoặc vài tháng sau nạn nhân mới chết thì đó là cố ý gây thương tích. Tác giả cho rằng, quan điểm này chưa chính xác, vì trên thực tế nhiều trường hợp nạn nhân không chết ngay, nhưng do người phạm tội có ý định tước đoạt tính mạng của nạn nhân nên đã đánh vào chỗ hiểm, một thời gian sau nạn nhân mới chết. Vì vậy, để phân biệt tội “giết người” hay tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác” thì phải tổng hợp tất cả các dấu hiệu của vụ án, mà xác định ý thức chủ quan của người phạm tội.

Ví dụ: Chu Ngọc L là nhân viên công ty T, quận B đi xe máy đến trụ sở công ty Đ cùng đóng trên địa bàn để gặp Nguyễn Xuân B. Đến nơi, thấy B đang ngồi ăn ở chiếc ghế cạnh bàn uống nước, L tiến về phía B, đứng trước bàn uống nước cách B 1m nói: “Đưa tiền để em đưa nó, hơn 5h nó gọi em rồi”. Thấy vậy, B phẩy tay nói “đi ra”. L tiếp tục nói “đưa tiền cho em không”? B vẫn nói “đi ra”. Ngay lập tức, L dùng chân phải đang đi giầy đá mạnh vào cổ bên trái khiến B ngửa cổ ra sau tựa vào ghế. Thấy xảy ra va chạm, một số nhân viên công ty Đ chạy đến can ngăn. Lúc này, mặt anh B đã tím tái, người lịm đi, gọi không phản ứng nên được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Đến 20h30’ cùng ngày, Nguyễn Xuân B tử vong.

Tại Bản kết luận pháp y xác định, “nguyên nhân chết của B là do chảy máu não, phù não tụt hạnh nhân tiểu não do chấn thương sọ não kín. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích vùng đầu do vật tày tác động gây ra…”.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Chu Ngọc L về tội “cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh A cũng truy tố Chu Ngọc L về tội “cố ý gây thương tích”. Sau đó, Tòa án nhân dân tỉnh A đã bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Với các tình tiết của vụ án như trên thì theo tác giả, rõ ràng hành vi của L là hành vi phạm tội giết người, mặc dù có thể L không mong muốn cho nạn nhân chết, nhưng chỉ vì nóng giận mà đá vào vùng xung yếu của cơ thể nạn nhân, buộc L phải nhận thức được rằng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng cho nạn nhân nhưng L vẫn hành động với ý thức bỏ mặc, không quan tâm đến hậu quả xảy ra.

- Trong trường hợp nạn nhân không bị chết:

Trường hợp này, ở cả hai tội trên, người phạm tội đều thực hiện hành vi một cách cố ý với hành động tương tự như nhau (như: Bắn, đâm, chém, đánh, đấm, đá…); nhưng nạn nhân không bị chết.

Dấu hiệu để phân biệt giữa hai tội này chủ yếu căn cứ vào mục đích của người phạm tội. Đối với tội “giết người” (theo Điều 123 BLHS năm 2015), người phạm tội thực hiện hành vi của mình dứt khoát phải mong muốn cho nạn nhân chết, còn nạn nhân không chết là ngoài ý muốn của người phạm tội; còn đối với tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (theo Điều 134 BLHS năm 2015) thì người phạm tội chỉ có ý định gây thương tích cho nạn nhân chứ không mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết.

Ví dụ: Trên đường đi tìm đối thủ trả thù, P, D, Đ và H cùng xông vào đánh hai người đi xe máy trên đường làm một người bị chấn thương sọ não, tỉ lệ thương tật 46% vĩnh viễn, trong đó Đ là người dùng gậy đánh vào đầu nạn nhân. Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố các bị cáo về tội “cố ý gây thương tích”, nhưng Tòa án nhân dân quận B cho rằng, việc Đ dùng gậy đánh thẳng vào đầu anh L là hành vi giết người chứ không phải cố ý gây thương tích nên quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để truy tố Đ về tội “giết người”. Tuy nhiên, sau đó Viện kiểm sát vẫn truy tố Đ về tội “cố ý gây thương tích” và Tòa án nhân dân quận B đã kết án Đ về tội “cố ý gây thương tích”.

Trong trường hợp này, hành vi dùng gậy đánh vào đầu nạn nhân của Đ không xác định với ý thức muốn ra sao thì ra, nạn nhân không bị chết nên cũng chỉ coi hành vi của Đ là hành vi cố ý gây thương tích. Vì về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, nếu ý thức chủ quan của người phạm tội không mong muốn cho nạn nhân chết, thì hậu quả đến đâu xử đến đó.

Đối với tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, BLHS năm 2015 đã căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân là dấu hiệu định tội, nên đối với tội phạm này chỉ có giai đoạn tội phạm đã hoàn thành, không có giai đoạn phạm tội chưa đạt. Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt giữa tội “giết người” chưa đạt với tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.

Trường hợp Công an “bắt nóng” một số băng nhóm sử dụng hung khí nguy hiểm như: Mã tấu, súng hơi, súng quân dụng, côn gỗ, dùi cui điện… chuẩn bị đi đánh nhau. Nếu không chứng minh được họ phạm tội giết người thì cũng không thể truy cứu họ về tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” được.

Khi phân biệt hai tội trên, cũng cẩn phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi mà người phạm tội thực hiện. Trong đó, ở tội “giết người”, hành vi tấn công thường quyết liệt hơn, cường độ tấn công mạnh hơn, chủ yếu nhằm vào những nơi xung yếu trên cơ thể nạn nhân như: Vùng đầu (sọ não, gáy), ngực, ổ bụng… nhưng vì khách quan nên người phạm tội không thực hiện được hành vi của mình hoặc bị cản trở nên không thực hiện được việc tước đoạt tính mạng của nạn nhân. Ví dụ: A dùng mã tấu chém vào đầu nạn nhân nhưng vì nạn nhân giơ tay lên đỡ nên chỉ bị thương vào bàn tay. Đối với tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, hành vi tấn công nạn nhân ít quyết liệt hơn, nếu có quyết liệt thì cũng chỉ nhằm vào những nơi khó gây ra cái chết cho nạn nhân như: Chân, tay, mông, đùi… nếu có tấn công vào nơi xung yếu trên cơ thể nạn nhân thì cũng chỉ tấn công vào nơi đã định (mắt, mũi, tai, miệng…).

Việc phân biệt hành vi giết người hay cố ý gây thương tích trong nhiều trường hợp rất phức tạp. Vì nạn nhân không chết nên không bao giờ người phạm tội thừa nhận rằng mình có ý định tước đoạt tính mạng của nạn nhân.

- Ngoài ra, tác giả cũng lưu ý khi phân biệt tội “làm chết người trong khi thi hành công vụ” với tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” trong trường hợp hậu quả làm chết người: Giữa hai tội này có một dấu hiệu chung là đều làm chết người, người phạm tội đều là người có chức vụ, quyền hạn và đều thực hiện hành vi trong khi thi hành công vụ.

Tuy nhiên, đối với tội “làm chết người trong khi thi hành công vụ” (Điều 127 BLHS năm 2015), người phạm tội có thể thực hiện hành vi do cố ý hoặc vô ý, còn tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” (chết người) (Điều 360 BLHS năm 2015), thì người phạm tội thực hiện tội phạm chỉ do vô ý.

Đối với tội “làm chết người trong khi thi hành công vụ”, thì bị hại (nạn nhân) bao giờ cũng là đối tượng tác động của tội phạm, tức là người phạm tội trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân; còn đối với tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả chết người” (hậu quả nghiêm trọng), thì nạn nhân bị chết hoàn toàn không phải là đối tượng tác động của người phạm tội. Tuy nhiên, trong một vụ án làm chết người trong khi thi hành công vụ có đồng phạm, thì có thể có người không có hành vi tác động trực tiếp đến thân thể của bị hại, mà chỉ có người thực hành có hành vi này. Ví dụ: A, B, C, D là dân phòng do A làm Tổ trưởng đi tuần tra trong khu dân cư. Khi phát hiện có hai thanh niên khả nghi là T và H tưởng là kẻ gian nên yêu cầu T và H cho xem giấy tờ tùy thân nhưng T và H không chấp hành còn có lời lẽ xúc phạm tổ dân phòng nên xảy ra xung đột. A đã ra lệnh cho B ,C, D trói T và H lại rồi đưa về trụ sở Công an xã. Trên đường về, T và H tự cởi trói bỏ chạy thì bị C và D dùng dùi cui đánh nhiều cái vào đầu làm T bị trọng thương. Tổ dân phòng thấy vậy đã đưa T vào trạm xá cấp cứu nhưng vì bị đánh vào chỗ hiểm nên T đã chết./.

Đinh Văn Quế - Nguyên Chánh tòa hình sự, TAND tối cao

 
 

TIN MỚI NHẤT

TIN MỚI NHẤT